CHƯƠNG 1. Hồng Nhu - cuộc sống và duyên văn 1-1-1. Cuộc sống ‘Hong Nhu tén thật là Trần Hồng Nhu, sinh ngày 1 - 12 - 1934 nhưng tuổi thật của ông là sinh vào năm Nhâm Thân (1932). Nguyên quán ở làng Mỹ Lợi, xã Vinh Mỹ, huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Hiện trú tại số nhà 12/1/1 Xuân Diệu - Huế. Hồng Nhu được học chữ từ lúc 4 nổi, do đó ông sớm có niềm say mê đọc sách. Lúc nhỏ, ông đọc rất nhiều sách. Ông đậu tiểu học năm 10 tuổi.
“Cách mạng thắng Tấm thành công, ông thoát ly theo đoàn học sinh kháng chiến Thừa Thiên Huế vào Liên Khu 4 và học tại trường Trung học kháng. chiến Hương Khê. Năm 1948, lúc 14 tuổi, ông đã gia nhập vào bộ đội, lâm liên lạc chiến đấu ở chiến trường Bình Trị Thiên khói lửa. Một thời gian sau, công theo binh đoàn sang Lào làm lính tỉnh nguyện.
Năm 1956, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi giải phóng Điện Biên, Hằng Nhu trở. "về nước tiếp tục phục vụ trong quân đội cho đến năm 1961. “Từ năm 1962 ~ 1965 : Cán bộ văn hoá, cán bộ kỹ thuật thuỷ lợi ở Ty.
‘Thuy lợi Nghệ An, Ty Văn hoá Nghệ An. Tit nim 1965 ~ 1987 : Cán bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Nghệ An (Nghệ Tĩnh), Uý viên thường trực Hội Văn nghệ Nghệ Tĩnh. Năm 1981, Hồng Nhu trở thành Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. “Từ năm 1987- 1998 : cần bộ văn nghệ ở Hội Văn nghệ Bình Trị Thiên, “Thừa Thiên Huế, Phó Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế, Bí thư Đảng Đoàn Văn nghệ tỉnh, Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương nhiều Năm 1998 : Về hưu, viếtở nhà cho đến nay.
Mặc dù tuôi đã cao nhưng, khi về hươu, ông vẫn giữ những chức vụ qua trọng như Chỉ hội trưởng Chỉ hội nhà văn Việt Nam tại Huế, thành viên Hội đồng Ban én tập Tap chi Séng Huong, Từ những ngày côn trong quân ngũ, ông đã tập tảnh làm thơ, viết truyện. Phát hiện anh cán bộ thủy lợi có năng khiếu viết lách, ngành văn hóa. tỉnh Nghệ An đã chuyển ông sang làm công tác văn hóa, văn nghệ. Nam 1987, ông trở về Thừa Thiên Huế, công tác trong ngành văn học nghệ thuật rồi làm Tổng Biên tập Tạp chí Sông Hương.
Ông viết nhiều thể loại: truyện dải, tyyện vữa, truyện ngắn, thơ, tin văn. rong đó thành công nhất là truyện ngắn và thơ. Lúc nhà văn bước sang tuổi 55, cái tuổi đối với nhiều người đã gần đất xa trời, thì ông có một quyết định táo bạo- dịch chuyển từ thành phổ Vinh trở về quê hương Thừa Thiên Huế. Quả thật, đó là một quyết định rất khó khăn.
và đầy trăn trở. Trở về quê hương sau bao nhiêu năm xa cách, lòng ông trỗi dây những cảm xúc lạ làng. Điều này đã giúp ích rất nhiều cho vige sing tée của ông. Đọc những truyện ngắn của ông, ngỡ như nhà văn Hồng Nhu là con một gia định làm nghề sông nước ở dim pha Tam Giang.
Mặc dù không phải là cư dân đầm phá nhưng qua that, ông đã có quá tỉnh gắn bố cả thời niên thiếu. Quê ở làng Mỹ Lợi, nhà cách phá Tam Giang vài cây số. Lúc cồn nhỏ, công được chứng kiến những tập tục của người dân đầm phá, lại được nghe các, cu giả trong làng và cụ thân sinh của ông - người ắt am hiểu văn hóa của cư. dân đầm phá kể lại.
Bằng trí tưởng tượng phong phú của một nhà văn có "nghề, ông đã tái hiện lại phần nào đồi sống tâm linh ở vũng đằm phá với bao. nhiều câu chuyện huyển bí, bao nhiêu tập tục lạ lùng và đưa đến cho người đọc những khámphá mới lạ Cuộc sống của nhà văn thật giản dị. Ai đã một lẫn gặp gỡ nhà văn sẽ dễ dàng thấy được điều đó. Mặc dù trong suốt c đời inh, ông cũng đã mua được một chiếc xe máy nhưng ông lại không đi.
Giữa thành phố én ao, tip nập xe cô, ông vẫn giữ cho mình chiếc xe đạp cả tảng. Lần đầu tiên gặp nhà văn, tôi cứ hình dung chắc đó là một ông già khó tính, xe hoi, nha Vu vi di sao ông cũng đã qua nhiễu chức vụ. Thể nhưng thật bắt ngờ. Trước mắt tôi là một ông giả mái tóc bạc trắng như cước với nụ cười hiển dịu.
Cuộc sống của vợ chẳng ông giản dị đến bất ngờ. Căn nhà nhỏ cấp bốn thấp hẳn so với những ngôi nhà cao tằng kế bên. Hiện nay, nhà văn Hồng Nhu đã qua tuổi bát tuần. Và trong năm này, nhà văn cũng đã được vinh dự nhận giải thưởng của nhà nước về Văn học 'Nghệ thuật cũng với nhà văn Nguyễn Khắc Phê, nhà văn Tô Nhuận Vỹ.
Dié đặc biệt là cả ba cũng đã từng là Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương. Kẻ từ hi ra đời cho đến nay, tờ tạp chỉ nây đã có bốn người đạt giải thưởng cao quý này. Trong đó, nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm là người đầu tiên. Duyên văn "Trước khi đi bộ đội, Hồng Nhu cũng có viết nhưng chỉ iết lãng nhãng, cho vui.
Lúc nhỏ, do đọc nhiều loại sách không chon lọc nên Hồng Nhu bị ‘anh hưởng bởi những loại sách rẻ tiền. Ông thường mơ đến những trang hiệp sĩ hành tấu giang hỗ, cứu nhân độ thể và tập tành viết tiểu thuyết. Dù vậy, chẳng có cuốn nào thành công. Nhưng cũng từ đây nhen nhóm trong ông lòng say mê văn chương, Trong thời gian đi bộ đội từ năm 1948 ~ 1961, ý định viết văn lại đến với ông.
Những năm tháng trên chiến trường ben Lao gian khổ, Hing Nhu bất đầu viết thơ, sắng tác ca khúc rồi mới đến văn xuôi. Khoảng những năm 1950, khi ở trong quân đội có phong trảo viết những kỷ niệm sâu sắc về người lính, Hồng Nhu cũng tích cực hưởng ứng và truyện ngắn Niát chém đâu tiêm a đời. Đây là một câu chuyện có thật lúc nhỏ, kế về việc những du kích đánh. đuổi giặc Pháp ở quê Mỹ Lợi.
Mọi người cố giết cho được thằng Việt gian nhưng cuỗi cùng hắn chỉ bị thương. Đây la truyén lin dau tiên được đăng báo. snên Hồng Nhu rit vui mừng và cũng là động lực để vit truyện Sau đó, vào năm 1956, khi Hồng Nhu ở nông trường ông đã viết truyện. "Những người irên đẳng có.
Truyện ngắn này sau được giải II Văn nghệ quân đội năm 1958. Từ đó, duyên viết truyện ngắn cit theo du ng dường như. suốt cuộc đời. Cũng có lúc hứng lên, Hồng Nhu viết tiểu thuyết nhưng không, thành công.
Mãi đến năm 2008, ông ï viết được cuốn tiểu thuyết duy nhất là Đổi trở gió. Một lần đến thăm nhà văn, Hồng Nhu tâm sự rằng: Truyện. ngắn là thể loại văn học xung kích nhưng chứa đựng nhiều iu. 6 Trung Quốc, người ta cho truyện ngắn là doan thiên tiểu thuyết cũng đúng vì công phu lao động của người viết truyện ngắn cũng không khác mấy so với viết tiểu thuyết.
Có những truyện ngắn ấp ủ mấy năm trời mới viết được như truyện Lịt trời lông tía bay vẻ, tôi Ấp ù từ nhỏ, sau mây chục năm giải phóng, khi trở về quê hương sực nhớ lại và viết Sau hơn 20 năm xa quê, năm 1987, ông quyết định rời xứ Nghệ trở về cquê hương. “Người ta, trong một lẫn xê địch, tâm hn thường chỉ chắn động một lằn; hoặc là khí ra đi như phải lừa xa quẻ hương, cha mẹ; hoặc là khỉ phải dẫn thân vào một cuộc phiêu hưu. Nhưng với Hồng Như, cá khi khởi "hành lẫn lúc cập bến đỗ đều đông sông trong long,” [42, 5]. Va cai quyết định táo bạo đó đã đưa Hồng Nhu đến với thơ khi tuổi không còn trẻ nữa.
Nguyễn Khắc Phê giải Như bỗng dưng nỗi “máu ” làm thơ từ ngày trở lại quê nhà vì ông chợt “héi xuân” và đang yêu! Cũng chẳng có gì lạ. Và chỉnh ông đãi viết: “Chẳng giấu gì, tôi có mội người yêu đáp.” (Trích “Rốt cuộc” trong “Ngẫu hứng vẻ chiều ") Có cây bút nào không yêu mà làm được tho hay? Chỉ riêng tình yêu quê hương sau nửa đổi người xa cách trỗi diy đã là nguồn nhựa sống thừa sức thức dậy “mùa xuân” nơi ông |42, 3Ì Trong các thể hệ nhà văn hiện nay, nhà văn Hồng Nhu là một trong số những người hiểm hoi của thời chống Pháp còn lại đang cm bút sáng tác. ĐỀ ti quen thuộc trong tác phẩm của ông là những con người bình thường, giản dị với tinh cám cao đẹp, tốt-xấu. Nhà văn tâm sự: “Trong suốt cuộc đời cằm.
bit, luôn có gì đó thôi thúc tôi vide dé miêu tả cuộc sng của nhân đân trong lao động, chiến đấu. Bởi tôi sống gắn bó với họ. Tôi hạnh phúc vì có một nhân dân vĩ đại và có tình cảm cao đẹp như vậy để viér” [15], 'Với 10 truyện ngắn trong tập Trà (hiếu phụ, nhà văn Hồng Nhu đã viết về những tỉnh cảm cao đẹp của con người mới xã hội chủ nghĩa trong quá trình xây dựng đất nước sau giải phóng. Tập truyện ngắn Ljf ưởi lồng tía bay vẻ gồm 33 truyện ngắn hay và tâm đắc nhất của nhà văn.
Đây là sự lựa chọn rit khit khe của chính nhà văn, rút từ cã chục tập để chưng cất 33 truyện ngắn tiêu biểu của gần trọn một đời văn. Đó là các câu chuyện miêu tả những số phân con người rất bình thường trong cuộc ến đầu chống giặc ngoại xâm: "Đặc biệt, tập truyện ngắn này còn có những tác phẩm viết về văn hóa độc đáo, đâm chất hoang đã của người dân đầm phá Tam Giang, Thừa Thiên Huế được bạn đọc và giới chuyên môn đánh giá cao. Trong sự nghiệp sáng tác của nhà 20 văn Hồng Nhu, mang để tài này đã giúp ông ghi dấu ấn với độc giả. Đó là nền văn hỏa kỷ lạ, có sức hút mạnh mẽ.
Và ông đã miêu ta ving dim phá này với bao nhiều tập tục đặc trưng của họ, như: Lễ hợp cẩn, lễ hội ăn mây, 18 nhập WE ding Thin Di ¿y là lễ hội mà thời ấu thơ anh từng chứng kiến. Lễ được tổ chức ở chợ Côn, vào giờ Thìn, ngày mỗng hai tết. Mâm cổ được bà con bung. ra từ sắng sớm.
Những người ăn mày trong vùng tu tập đông đủ, ngồi vào mâm cỗ "họ ăn một cách đảng hoàng, đĩnh đạc như ăn cỗở nhà mình”. Đây là một lễ bội đầy tỉnh nhân văn. Tiếc là bây giờ đã không còn nữa. LỄ nhập van đỏ thì điễn ra "đơn sơ mã trắng lệ° giữa vùng phá mênh mông.