CHƯƠNG 1 VAN XUÔI VÕ THỊ XUÂN HÀ - DÒNG RIÊNG GIỮA NGUÒN CHUNG 1.1, DIEN MAO VAN XUOI VIET NAM SAU 1986 1. Sự đ mới về tư duy sing c Chiến thắng năm 1975 là một dấu mốc lớn trong lịch sử dân tộc đã để lại những dấu ấn sâu sắc trong đời sống văn học. Do vậy có thể thấy, từ sau 1975, văn học đã có những chuyển đổi mang ý nghĩa như một sự chuẩn bị, một giai đoạn “bản lề” đề đi tới công cuộc đối mới toàn diện, sâu sắc đồng bộ. với sự đổi mới của đất nước từ sau 1986.
'Năm 1986 là thời điểm ghi nhận sự đổi mới tư duy trên các lĩnh vực, đặc. biệt là đổi mới tư duy văn học nghệ thuật. Không khí cởi mở, dân chủ của hiện thực cuộc sống nói chung và đời sống văn học nói riêng tác động mạnh. mẽ đến chủ thể sáng tạo, quan niệm mới về nhà văn- bạn đọc, sự đổi mới trong cái nhìn nghệ thuật về hiện thực và con người, bên cạnh đó là sự thay đổi về thi pháp sáng tác của các nhà văn đã làm nên một sự thay đổi gần như.
toàn cảnh bức tranh văn chương Việt Nam. Đại hội Đảng lần thứ VI đã nhận định: *Văn học nước ta phải đổi mới twe duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”, sự nhiệt tình trong đổi mới đất nước, khát vọng dân chủ và tinh nhìn thẳng. sự thật đã và đang tạo đòn bẩy cho sự đổi mới mạnh mẽ của văn học thời kỳ này, khơi dây luồng sinh khí mới trong tư duy sáng tạo của giới văn nghệ sĩ, tạo điều kiện cho văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng phát triển. Van hoe giai đoạn này đã nêu bật được vai trò chủ thể của nhà văn, khiến ho tu tin hơn trong những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật.
Sau năm 1975, đặc biệt là sau những năm 1986, hầu hết các mảng hiện thực đều bị xáo trộn, mở ra một "vùng đất mới” thu hút đông đảo đội ngũ các nhà văn. Dường như những để tài nhạy cảm, những nội dung bị xem là cắm ky trước kia giờ đây được đề cập đến một cách rõ ràng, đa dạng. Ở đâu tập trung càng nhiều yếu tố. chân thực của đời sống thì ở đó càng có sức thu hút mạnh mẽ giới văn nghệ sĩ.
Đề tài mang âm hưởng sử thi không còn giữ vai trò độc tôn mà thay vào đó. là mảng đề tài về thế sự đời thường và đạo đức cá nhân con người thời kỳ hậu chiến. Đi sâu vào đời sống cá nhân, khám phá những tính cách, số phận con người với những buồn- vui, hạnh phúc- bi kịch. đã làm nên một điện mạo mới cho văn học nước ta ở giai đoạn này.
'Có thể nói, từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI, văn học nước ta đã có sự đổi mới, phát triển đa dạng hơn về mặt đề tài, chủ đề; phong phú và mới mé hon về thủ pháp nghệ thuật. Văn học giai đoạn nảy để cao cá tính sáng tạo của nhà văn, đổi mới cách nhìn nhận, tiếp cận con người và hiện thực đời sống, khai thác nội tâm con người dưới những mối quan hệ đa dạng và phức tạp, thể hiện con người ở nhiều phương diện của đời sống, kế cả đời sống tâm linh. Trước hết, sự đổi mới thể hiện rõ trên phương diện tư duy nghệ thuật Văn xuôi Việt Nam sau 1986 đã chuyển dần từ tư duy sử thỉ sang tư duy tiễu thuyết. Hiện thực đời sống với những thay đổi đòi hỏi bản thân từng nhà văn.
phải có cách tiếp cận phù hợp. Văn học lúc này không chỉ tập trung vào bai chủ để quen thuộc là ca ngợi Tổ quốc và công cuộc xây dựng xã hội chủ. nghĩa, mà mở rộng ra với mảng đề tài lâu nay dường như đã bị lãng quên: vấn. đề đời tư -thế sự.
Từ những lớn như lý tưởng sống, lý tưởng đấu tranh. giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội đến những vấn đề nhỏ nhặt của cuộc sống đời thường cũng được các nhà văn từng bước tiếp cận. như văn học trước đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng đồng, của cả dân tộc thì giờ đây, số phận của từng cá nhân cũng đã trở thành sự quan tâm của người sáng tác. Cảm hứng sử thỉ trước 1975 hướng ngòi bút của văn nghệ sĩ vào việc phát hiện và ca ngợi những con người tiên tiến, những cá nhân anh hùng - đó là những hình mẫu lý tưởng của một thời đại vinh quang và oanh liệt, những con người của sự nghiệp chung, sẵn sảng hy sinh bản thân vì tập thé, vì Tổ quốc.
Họ xuất hiện trong từng trang văn không. với tư cách cá nhân mà là đại diện của đất nước, của lý tưởng, của khí phách thời đại. Vẻ đẹp toàn diện, toàn mỹ của họ được miêu tả như những "viên ngọc không tì vết”. Ngược lại đó, văn học sau 1975, đặc biệt là từ sau những, năm 1986 khi viết về đề tài đời tư - thế sự lại hướng người đọc đến những.
nhân vật là con người đời thường trong cuộc sống với những số phận hết sức phức tạp. Con người đời thường trước đây bị quên lang, cl bỏ thì đến nay lại được quan tâm, khám phá và miêu tả bằng nhiều góc độ khác nhau. Không chỉ đừng lại ở đó, văn xuôi sau 1975 còn khác văn xuôi giai đoạn. trước ở sự đa dạng về giọng điệu: “Dưởng như 10 năm đâu khi cuộc chiến tranh chống Mỹ kết thúc, văn xuôi nước ta mang giọng điệu chủ đạo là trầm tình, khách quan.
Từ khoảng giữa thập niên ä0 nổi lên rõ hơn giọng điệu phê phán, phân tích xã hội với sự phát triển ô ạt của dòng văn học chống tiêu cực. Giọng điệu này chứa đựng sự nhiệt tình sôi nồi, nhu cầu đối thoại ráo riết vẻ các vấn đề xã hội, về ý thức công dân vừa thức tỉnh theo tỉnh thần dân chủ, đối mới. Sau đó giọng phê phán trầm xuống, hòa đằng với nhiều giọng khác” [38] Tir 1986, nén kinh té thị trường phát triển đã kéo theo nhiều sự thay đổi trong cách nghĩ, cách làm của người dân Việt: Đời sống năng cao, giá trị cuộc sống được nâng lên không ngừng, vị thế đất nước trên trường quốc tế ngày cảng được khẳng định, tuy nhiên những mặt trái của cuộc sống cũng bắt đầu. Con người trong văn học lúc này không chỉ và không còn là những, anh hùng của đắt nước, của dân tộc mà lúc này, họ sống và tồn tại với ý thức cá nhân, cái tốt và cái xấu, cao cả và thấp hèn, đáng thương hay khinh bỉ cùng song song hiện hữu.
Nói cách khác, con người trong văn học sau 1986 như những tiểu vũ trụ phức tạp, khó nắm bắt với sự soi chiếu từ nhiều góc độ. Với quan điểm xem con người thời kỳ này vừa là sản phẩm của tự nhiên, vữa là tổng hòa các mỗi quan hệ trong xã hội, cho nên con người trong văn học sau 1986 hiện lên hết sức phức tạp với sự đan xen nhiều tính cách khác nhau trong cùng một con người: Con người hiện lên như vốn có, không thần thánh hóa, không lý tưởng hóa. Họ được đặt trong sự ngồn ngang bể bộn của hiện thực cuộc sống giúp cho độc giả có được những cảm nhận chân thực nhất về mọi thứ xung quanh mình. Sự đổi mới về mặt tư duy, quan niệm đã dẫn đến những thay đổi về mặt cảm hứng.
Hầu hết các nhà văn ở giai đoạn này đều giành nhiều bút mực cho. cảm hứng thể sự, cảm hứng về thân phận con người. Đây là những cảm. hứng mới, chiếm ưu thể trên văn đản thời kỳ này.
Riêng ở phương diện cảm hứng nghệ thuật, nếu như văn học giai đoạn trước thường tập trung vào khuynh hướng sử thỉ - cảm hứng lăng mạn với việc đề cao tính chất tập thể, cộng đồng thì văn học thời kỳ sau đổi mới lại tập trung vào những cảm hứng như: cảm hứng bỉ kịch, cảm hứng thế sự, cảm. hứng trảo lộng, phê phán. Có thể nói sự xuất hiện của cảm hứng bi kịch là một nét mới so với văn học thời kỳ trước đó - đây chính là kết quả của những điều kiện mới, trong. hoàn cảnh mới.
Tập trung khai thác cảm hứng bỉ kịch, nhà văn trước tiên chú ý đến hậu quả tàn khốc mà cuộc chiến đã gây ra, đó không chỉ là những mắt. mát to lớn về mặt thể xác mà còn là những vết seo lồi lõm về tỉnh thần (Mỗi buồn chiến tranh- Bào Ninh, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành- Nguyễn Minh Châu. Không chỉ dừng lại ở đó, bì kịch thời kỳ hậu chiến còn gắn với bi kịch tình yêu - hôn nhân - gia đình: nó tàn phá cuộc sống của. những “anh hing” da hy sinh biết bao xương máu vì quê hương, đất nước: đó có thể là những người phụ nữ trong Bếm không chồng (Dương Hướng), cô 'Quỳ trong Agười đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (Nguyễn Minh Châu) hay Giang Minh Sài với Thời xa vắng (Lê Lựu).
Không chỉ trong chiến tranh, con người phải đối mặt với mắt mát, bi kịch mà cuộc sống thời hậu chiến cũng ẩn chứa nhiều phức tạp và lắm nỗi đa đoan, con người không chỉ loay hoay với những vướng mắc gặp phải trong tình yêu - hôn nhân mà họ còn giãy giụa. trong mối quan hệ với đồng nghiệp, với xã hội - những mi quan hệ trước đây Ít khi gặp phải Cảm hứng thế sự cũng là một mảnh đất màu mờ hứa hẹn nhiễu tiềm năng cho đôi ngũ các nhà văn. Văn học thời kỳ sau đổi mới tập trung khai thác sâu con người cá nhân trong cuộc sống đời thường với biết bao khó nhọc. của việc mưu sinh, những toan tính tủn mún rất đỗi nhỏ nhen, xuất phát từ khía cạnh này, con người được nhìn nhận trong hệ quy chiếu “đa chiều” với cả phần lương thiện tốt đẹp và phần bản năng hoang dã trong một các sáng, tác của Nguyễn Khải như Lạc thời, Một người Hà Nội.
Nguyễn Minh Châu với Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát Sự xuất hiện của Nguyễn Huy Thiệp trên văn đàn từ 1987 đã tạo nên một. tiếng vang lớn đối với công chúng. Ngay từ những sáng tác đầu tay, Nguyễn. Huy Thiệp đã khiến công chúng phải sửng sốt với lối viết mới lạ về cái cô đơn, sự lạc lõng của con người ngay trong chính gia và đồng loại.
tác của Nguyễn Huy Thiệp từ Tướng về hưu, Muối của rừng, Không có vua' đến Kiếm ›, Vàng lửa, Phẩm là sự thức tỉnh, trăn trở vật lộn trong sự kiểm tìm chân lý - mục đích sống với đầy những lo âu, trăn trở.