Chương 1 TIEU THUYET NGUYEN XUAN KHANH ‘TRONG DONG CHAY VAN HQC VIỆT NAM DUONG ĐẠI. Những đặc điểm nỗi bật cũa tiếu thuyết Việt Nam đương đại 1. Sự mới mẻ trong hiện thực phân ánh Is Sau 1986, cùng với sự phát triển của xã hội mới, một thể hệ công chúng. văn học mới cũng ra đời với những đôi hỏi mới.
Các nhà văn không thể di theo những lối mòn xưa cũ mà phải đi tìm cho mình một con đường đi riêng với những cảm hứng suy tư, chiêm nghiệm, dự cảm về sự. đổi của thời cuộc, của thân phận con người. Chat sir thi nhạt dan, thay vào đó là sự mở rông các phạm trù thẩm mĩ ở những để tài thể sự khiến tiéu thuyết ngày cảng, gần gũi hơn với đời thường. Với việc phát triển đề tải thể sự, đời tr, tiểu thuyết có thé đi sâu vào những ngóc ngách sâu kín của tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trạng thái nhân thể, nhất là trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh kéo dài bước sang đời sống hòa bình đầy phức tạp và thử thách.
Con người bình thường, đời thường được chú ý và thể hiện sâu sắc với những số phận bắt hạnh, những thân phận bí kịch. “Cảm hứng phê phán là một trong những nguồn cảm hứng chính của các nhà văn đương thời. Nếu như trước kia cái xấu, cái ác thường được che lấp bằng cái ốt, cái phi thường thì nay, mọi góc khuất trong tâm hỗn đều được nhà văn khai thác tận cùng. Tiểu thuyết không chỉ bộc lộ những nễm trải suy tự, nghiền ngẫm của nhà văn mà còn phơi bày, phanh phui các sự thật để di đến tận cùng cốt lời của nó.
Các nhà văn tập trung khai thác các tằng vỉa của hiện thực đời séng, dim nhin thing vào những "mảnh vỡ ", những bí kích nhân sinh, mổ xẻ, phơi bảy nó bằng cái nhìn trung thực, táo bạo. Với tiểu thuyết Đám cưới Không có giấy giá thú, Ma Văn Kháng đã phản ánh sinh động bỉ kịch của một nhà giáo, một tí thức. Đồ là một trí thức lúc thì như nha hién triết, một nhân cách cao cả và thánh thiện bị ném vảo môi trường với các giá tr tỉnh thẫn bị đảo ôn, băng hoại về đạo đức, nhân phẩm; lúc lạ như một con người mơ mộng, lãng mạn, hay đỏ mặt vì mặc cảm và sĩ diễn, bị nhắn chim trong edi biển đời thường: lúc lại là một người say mể nghề nghỉ „ nhiều hoài bão và khát vọng nhưng lại bị vây bia bởi một xã hội dung. 6 tục vi co hoi.
Lé Luu lai bing Thai xa viing để phê phán mạnh mẽ những thôi cquen bảo thủ, ích ky một thời. Nhân vật S lứa con" của thối quen gia trưởng và tâm lý nô lệ làm thuê, của lòng cuồng nhiệt giáo điều, máy móc. “Cuộc đời Sải là một tấn bỉ kịch, "nửa đời yêu cái người khác yêu. Niza đời côn lại đi yêu cái mà mình không có”.
Đó là bí kịch của con người thiểu bản lĩnh, không làm chủ được cuộc đời mình. Có thể thấy, các nhà văn đã "rắn công" vào những tiêu cực, những vĩ phạm tring tron chả đạp lên đạo lý, dân chủ và công bằng xã hội, phản ánh cuộc sống của một bộ phận xã hội bị tha hóa 'Bên cạnh cảm hứng phê phán, tiểu thuyết giai đoạn này còn mang cảm. hứng chiêm nghiệm, suy tư. Có thể bắt gặp những cảm hứng này trong các tiểu thuyết của Nguyễn Khái, Chu Lai, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh.
Các nhà văn tìm về quá khứ, tái hiện nó không chi để chiêm ngưỡng dai tưởng niệm những chiến công vinh quảng mà còn để soi trong đó những tắm ương tinh thần và đạo đức, những lời giải đáp cho các vấn đề của cuộc sống, hiện tại. Quá khứ anh hùng đau thương của đắt nước vẫn là điểm tựa, là xuất phát điểm cho những vấn đề của hiện tại. Những tác phẩm như Nổi buổn chiến tranh của Bảo Ninh, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Sống. khó hơn là chắt của Trung Trung Đỉnh, Đất trắng của Nguyễn Trọng Oánh.
đó chính là "cuộc chiến tranh" của những người tìm lẽ sống hôm nay. “Từ nữa sau những năm 1990, vẫn có sự xuất hiện của tiếu thu) về chiến tranh, tiêu biểu là Ngưởi đi vắng (1999) của Nguyễn Bình Phương. Và Dưới chín tẳng trời (2001) của Dương Hướng. nhưng trong bồi cảnh mới, chiến tranh đã được nhìn nhận ở góc độ khác, như một vẫn đề, một bộ phận của đời sống nhân sinh.
Có thể nói,tiễu thuyết hậu chiến đã phẫn nào đáp ứng, fa được yêu cầu tái nhận thức vẻ chiến tranh, về người lính và có những đồng, góp không nhỏ đối với quả trình đổi mới văn xuôi Việt Nam. "Nguồn cảm hứng chỉ phối tiêu thuyết Việt Nam đương đại là cảm hứng. về thân phận cá nhân. Nói như Hà Minh Đức thì yêu cầu quan trọng để tạo đựng được một bức tranh của một thời chính là việc migu tả thành công những số phân của con người, vì chính những con người đó là cái đơn vị bề nhỏ nhưng giàu năng lượng để nõi lên tiếng nói một thời đại.
Trong tiễn thuyết Việt Nam sau năm 1975, con người được nhìn ở nhiễu vị thể và trong, tinh da chiéu cua mọi mỗi quan hệ, kể cả với chính mình. Đó là hình tượng, con người trong thời buổi kinh tế thị trường ví sống thực dụng, những số phân bắt hạnh, những kiếp sống vừa đáng giận vừa đáng thương. Họ hiện ra vở ranh giới mong manh giữa cao cả và thấp hèn, hạnh phúc và khổ đau, gánh năng mưu sinh và lương trí. Chính thực tế cuộc sống đà thôi thúc các nhà tiêu thuyết hướng tới miều tả số phận con người bình thường với những bì kịch giữa khát vọng và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kim him, giữa nhân bản và phi nhân bản.
Nhu vay, bing cái nhìn mới đối với hiện thực, nhà văn có thể đi sâu vào thế giới nội tâm con người, lắng nghe dòng chảy lo âu trăn trở, suy tư dẫn vặt của con người. Và bên cạnh việc miêu tả con người tự nhiên, khai thác yếu tổ tích cực của con người tự nhiên, tiểu thuyết đương đại còn khám phá. con người ở bình điện tâm linh. Điều này làm cho tiểu thuyết có khả năng đi sâu vào những miễn sâu kín của tâm hồn nằm ngoài vòng kiểm soát của ý thức con người.
Tir di thé ky XI, tiểu thuyết ngày cảng có sự đổi mới mạnh mẽ về cấu trúc thể loại. Nếu như trước đây, thường chỉ có hai kiểu loại nhân vật đối lập là chính diện - phản điện thì kiểu nhân vật phức hợp. đa bình diện là một sự đổi mới rắt căn bản. Đó là kiểu nhân vật có tính cách, tâm lý phức tạp.
Các nhãn vật trong Thoạt Í thủy, Ngồi (Nguyễn Bình Phương), Cơ hội của Chia, Khai huyển muộn (Nguyễn Việt Hà), Đĩ tìm nhân vật (Tạ Duy Anh), Hé Qu Ly (Nguyễn Xuân Khánh). đều là những phức thể tính cách và tâm. lý đẩy những hồi ức, dẫn vặt, am ảnh. Sự biểu hiện của những phức thể tính cách và tâm lý lại rất đa dạng Có khi là kiểu nhân vật phẩm thân (Khẩn trong Ngồi, Tính trong Thoạt ÿ đấy), khi lại là kí nhân vật chức năng tự sự - nhân vật vừa đóng vai người kế chuyện, vừa trực tiếp tham.
gia cốt truyện, xuất hiện khá nhiễu. Việc xây dựng các kiểu nhân vật này là cách nhà văn thể hiện tính dân chủ của văn xuôi hiện đại, xóa mờ ranh giới giữa tác giả và nhân vật, giữa người viết và người đọc khiến câu chuyện trở nên đa chiêu, đa điện hơn do được trần (huật, được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau. Tác phẩm vì thể trở nên đa thanh, đa nghĩa do có những cuộc ° thoại” giữa các nhân vật, giữa nhân vật với tác giả và cuối cùng là giữa người đọc và tác phẩm. Có thể thấy, sự thay đổi trong quan niệm về nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật đã góp phần tạo ra những đổi thay trong cấu trúc tự sự, giúp nhà văn đẩy nhanh tiến trình đổi mới về cấu trúc thể loại cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại 1.
Sự cách tân mạnh mẽ về nghệ thuật Khi mô hình tiểu thuy cũ không còn hữu hiệu trong việc minh giải các mâu thuẫn trong cuộc sống đương đại, yêu cầu đổi mới hình thức nghệ thuật của tiểu thuyết được đặt lên hàng đầu. Bên cạnh những tiểu thuyết có dung lượng lớn như các iễu thuyết của Nguyễn Xuân Khánh, còn có sự xuất hiện của những cuỗn tiểu thuyết ngắn. Cùng với dung lượng ngắn, số lượng nhân vật và sự kiện cũng ít đi. (Thiền sử 174 rang và Marie Sén 158 trang của Phạm Thị Hoài; Thoạt kỳ thúy với 163 trang của Nguyễn Bình Phương, Lão khổ với 330 trang và Thiên thần sám hối 186 trang ciia Te Duy Anh, Cot người rung chuông tận thế với 257 trang của Hé Anh Thi Ro rằng, thuyết trong những năm đây đã có sự phá cách so với truyền thống, thể hiện rõ nết quan niệm về lỗi viết mới của tiểu thuyết.
Khái niệm "ngắn không phải là sự "non yếu" của nhà văn mà nó biểu hiện một dấu hiệu quan trọng của sư nỗ lực tìm tôi, đổi mới kỹ thuật - nghệ thuật tự sự của các nhà văn đương đại. 'Văn xuôi đương đại, đặc biệt là tiểu thuyết để xuất tính "phân mảnh" như là một đặc điểm nỗi trội. Trong tác phim, các chương, đoạn được phân chỉa rất ngắn và không đều nhau, kết nối với nhau rất lông lẻo, thể hiện tính phân ly của các phần với chủ trung tâm. Lỗi kí u này đưa đến sự ạ hóa ngôn tử, lạ hóa cách trần thuật, triển khai văn bản gây chú ý cho người đọc, thay đổi sự tập trung hoặc phi tập trung của việc đọc văn bán một cách thật biến hóa.
Tất cả nhằm tạo ý nẹi năng động và biến hóa cho tác phẩm, sự. liên tưởng tự do các chỉ tiết. Đó là dụng ý nghệ thuật của các tiểu thuyết gia đương đại. Chính những mảnh văn bản ấy đã chứa đựng trong nó những mảnh đời sống vô cùng phúc tạp, da dạng với tắt cả các cấp độ bin hóa của chúng qua lựa chọn của nhà văn.
'Cùng với kiểu kết cấu phân mảnh là sự tồn tại của kiểu kết cấu theo xu. hướng mở thay vì khép kín trong tw sự. Nếu như trước kia, các nhà văn thường kết cấu tác phẩm theo logic nhân quả, kết thúc có hậu theo kiểu "hoàn thành" thì nay nhà văn thường kết thúc dở dang, bỏ lửng để người đọc tự suy. ngẫm, nhận thức vấn đề.