phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận văn gồm ba chương: Chương l: Tiểu thuyết Hồ Anh Thái trong tiến trình vận động của văn xuôi Việt Nam đương đại 'Chương 2: Hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Chương 3: Không gian nghệ thuật trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái. Chwong 1 TIEU THUYET HO ANH THAI TRONG TIEN TRINH VAN DONG CUA VAN XUOI VIET NAM DUONG DAL 1.1, NHUNG CHUYEN BIEN CUA VAN XUÔI VIỆT NAM SAU 1975 1. Déi méi quan nigm vé déi tugng sang tic Chiến thắng lịch sử mùa xuân 1975 đã đưa nước ta đi đến thống nhất hoàn toàn, khép lại một trang sử hảo hùng oanh liệt của dân tộc.
Giờ đây cả nước đi vào xây dựng chủ nghĩa xã hội với muôn vàn khó khăn chồng chất Dẫu cho cuộc chiến đã lùi xa, tiếng súng đã chấm dứt nhưng những hậu quả. nặng nề của các cuộc chiến tranh đã làm cho cuộc sống thời kỳ sau chiến tranh vốn đã khó khăn lại cảng thêm khó khăn gấp bội. Công cuộc cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa bắt đầu bộc lộ những khiếm khuyết cả trong nhận. thức và trong thực tiễn.
Có thể thấy, đó là thời kỳ mà nền kinh tế nước ta lâm. vào khủng hoảng trằm trọng. Cơ chế quản lý bao cấp tỏ ra bắt lực. Do vậy, cùng với sự thay đổi mọi mặt trong đời sống xã hội đã kéo theo sự thay đổi trong nhận thức và tâm lý ở mỗi người.
Nếu như trước kia moi người cùng đồng lòng chung sức cho chiến thắng của dân tộc thì ngày nay con người phải đối mặt với bao lo toan cá nhân, cho cuộc sống thường ngày. Với muôn vàn khó khăn xuất hiện, bỗng làm lay động mọi suy nghĩ và niềm tin của cá nhân mỗi người. Như nhà văn Nguyễn Khải đã nhận xét: “Chiến tranh ồn ào, náo. động mà lại có cái yên tĩnh, giản dị của nó.
Hoà bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong. Nhiều người không thể chết trong nhà tù, trên trận địa, trong chiến tranh mà lại chết trong. *ao từ trưởng giả” khi cả nước đã giành được độc lập và tự do” [24 tr 145] Trong hoàn cảnh lịch sử ấy, để giải quyết khó khăn trước mắt, nhằm. xây dựng và phát triển đất nước thì đổi mới là một lựa chọn khẩn thiết, dứt khoát và tắt yếu, là cái đảm bảo cho sự phát triển của đất nước, cũng là nỗi khát khao cháy bỏng của toàn dân tộc nhằm thoát khỏi những khó khăn, thứ thách của một đắt nước mà cuộc chiến tranh kéo dài vừa mới qua đi.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI như một luồng gió mới thôi vào đời sống xã hội, đặc biệt là đời sống văn học nghệ thuật, mở ra một thời kỳ mới cho văn học Việt Nam. Và một điểm cốt yếu của cuộc đổi mới này chính là chính là việc đổi mới tư duy, đổi mới cách làm, cách nghĩ cho đúng, làm cho đúng những quy luật khách quan vốn có của nó. Nói như nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh: "Ai cũng nói đổi mới nhưng đổi mới thật sự là gỉ? Theo tôi, đổi mới là nghĩ đúng, làm đúng quy luật khách quan, là tôn trọng tỉnh thần khoa hoc” [17]. 'Cũng nhìn nhận về vấn đề trên, nhà nghiên cứu Hà Xuân Trường trong lời kết thúc cuộc toạ đàm Văn học đổi mới và phát triển đã có phần thoả đáng.
khi nhìn nhận công cuộc đổi mới văn học: “Đỗi mới trong văn học, điều quan trọng nhất, quyết định nhất là cái nhìn và cái tâm của nhà văn. Đề tài, nhân vật, phong cách, cá tính không là cái gì nếu không có cái nhìn thời đại sâu sắc, thấu suốt nhân tình, nếu không có được một cái tâm trong sáng, nhân ái, cộng với ý thức đầy đủ về chức trách cao cả của văn học đối với con người, đối với cuộc đời, với nhân dân mình. Không có những cái đó thì không có mới" [24; tr49-50), Như vậy, sự chuyên động trong đời sống xã hội, nhất là sau Đại hội Đăng lần thứ VI, là tiền để đổi mới trong đời sống văn học nghệ thuật nói chung và tiểu thuyết nói riêng. Văn xuôi Việt Nam sau năm 1986, đặc biệt là tiểu thuyết đã vận động và phát triển theo nhiều xu hướng khác nhau tạo nên một bức tranh đa dạng, phong phú về đời sống cũng như các thể nghiệm về phong cách và bút pháp.
Công cuộc đổi mới từ 1986 với chủ truong “nhin thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật” đã mở ra một đường hướng rõ rằng và thông thoáng cho ngòi bút của các nhà văn. Văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng hướng về phản ánh những vấn đề thế sự, nhân sinh, từ góc nhìn đời tư, đa chiều, đa diện. Bức tranh đời sống với mọi góc khuất sâu kin được đưa vào những trang tiểu thuyết với đầy những trăn trở, phức tạp. Những sáng tạo văn học trở về với quy luật vĩnh hằng của đời sống, coi tính.
chân thật là phẩm chất quan trọng nhất của văn chương nghệ thuật. Mỗi trang văn, trang tiểu thuyết không chỉ có không khí hảo hùng của những cuộc đấu. tranh, với những chiến sĩ anh dũng hi sinh hoặc những chiến thắng vẻ vang, mà có cả những xóm nhỏ, những làng quê nghèo khó với những cuộc vật lộn sinh tồn, với những ghen ghét, đồ kị, với những bi kịch, những số phận đáng. Có thể nói văn xuôi nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong giai đoạn này đã đi vào khám phá những ngóc ngách sâu kín nhất của đời sống xã hội và của tâm hồn con người.
Những chuyển biến mang dấu ấn thời đại ia hé thong dé tai Từ sau giai đoạn đổi mới, van học có sự mở rộng về mặt dé tai. Trên chiều hướng đó, tiểu thuyết tập trung vào các đề tài sau: tiểu thuyết về chiến tranh và hậu chiến, tiểu thuy lịch sử, thuyết về cuộc sống đô thị, tiểu thuyết gia và tiểu thuyết về nông thôn. “Trước hết, ở khuynh hướng tiểu thuyết về chiến tranh, với hàng loạt các. tiểu thuyết Nổi buổn chiến tranh (Bảo Ninh), Góc tăm tối cuối cùng, Không.
phải trỏ đùa (Khuất Quang Thụy), Vòng tròn bội bạc, An mày dĩ vãng, Ba lần và một lẫn (Chu Lai), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nước mắt đó (Trần Huy Quang). Chiến tranh được các nhà văn nhìn nhận và đánh giá toàn diện khái quát trên bình diện triết lí, nhân sinh. Tiểu thuyết đi sâu vào số phận con người trong và sau chiến tranh. Từ những phận đời đó, bóng dáng chiến tranh.
hiện ra rõ nét Cuối thể ki XX đầu thế ki XI xuất hiện một số cuốn tiểu thuyết mới về hậu chiến: N/gưởi đi vắng (Nguyễn Bình Phương), Trùng ứu (Thái Bá Lợi), đến đò xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Cao hơn bẳu trời (Văn Lê), Rừng thiêng nước trong (Trần Văn Tuấn), Những bức tưởng lửa (Khuất Quang Thuy), Khúc bi tráng cuối cùng, Ăn mày đĩ vãng (Chu Lai), Mây cuối chân trời (Nguyễn Trọng Oánh), Tàn đen đm đỏ (Phạm Ngọc Tiền). Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh và hậu chiến đã bước vào một quỹ đạo. mới với sự kế thừa và cách tân đáng kể. Một dấu hiệu đổi mới nỗi bật là sự chuyển biến trong cách tiếp cận và phản ánh hiện thực.
Bề sâu của chiến tranh được khai thác, nhiều tác phẩm trừu tượng hóa những chiến công hoặc xoáy. sâu vào những mắt mát hi sinh. Nhiều tác phẩm xây dựng những mỗi quan hệ đa chiều giữa từng số phận và sự kiện chiến tranh (Ấn mảy đĩ vãng, Vòng tròn bội bạc). Cái bi - hài được mở rộng (Ấn mảy đĩ vãng), cái huyền ảo gia tăng, (Nỗi buôn chiến tranh, Bên đò xưa lặng lẽ).
Cái bì không còn bị dè dặt, né tránh (Không phái trò đùa, Rừng thiêng nước trong, Nước mắt đó). Bì kịch của con người trong và sau chiến tranh, đặc biệt là số phận của người phụ nữ được quan tâm (Chim én bay, Khúc bi trắng cuối cùng). Nhân vật người lính. được khắc họa với chiều sâu nội tâm.
Ở nhiều tác phẩm chiến tranh đã chạm. đến thế giới tâm linh của con người. Nhân vật được đặt trong nhiều mối quan. hệ, đặc biệt là mối quan hệ với chính.
Cuối thế ki XX đầu thế ki XXI, tiểu thuyết lịch sử có khuynh hướng. phát triển rắt mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu bức thiết đặt ra đối với con người là nhìn lại quá khứ, nhìn lại chính mình để suy ngẫm vả thúc đẩy sự phát triển của hiện tại. Trên chiều hướng đó, nhiều cuốn tiểu thuyết lịch sử ra đời gây. được sự chú ý của người đọc: Người đẹp ngâm oan, Gươm thần Vạn kiếp, Tuyên phi họ Đặng (Ngô Văn Phú), Vang vac sao Khuê (Hoàng Công Khanh), bộ tiểu thuyết Bão ráp zriễu Trần (gồm 4 tập truyện: Huyền Trân công chúa, Bão tap cung đình, Thăng Long nỗi giận, Vương triều sụp đổ) của Hoàng Quốc Hải, 7hăng Long kí (Nguyễn Khắc Phục), Giàn thiêu (Võ Thị Hao), Hồ Quý Ly, Mẫu Thượng Ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Tẩy Sơn Bí hùng truyện (Lê Đình Danh), Sóng Côn mùa lũ (Nguyễn Mông Giác), Hội thẻ (Nguyễn Quang Thân).
'Với đặc trưng hư cấu của tiểu thuyết, các nhà viết tiểu thuyết lịch sử đương đại đã nhìn lại lịch sử từ góc nhìn cá nhân. Sự nhận thức lại nhân vat Y Lan Hoàng thái hậu trong Giàn thiêu, Hồ Quý Ly trong tiểu thuyết lịch sử cùng tên, Trần Tha D6 trong Vong triéu sup dé, nhân vật lịch sử Bùi Thị Xuân - Trần Quang Diệu trong 4y Sơn bi hùng truyện. cho thấy tiểu thuyết lịch sử giai đoạn đầu thế kỷ XXI đã làm một cuộc đối thoại thẳng thắn với lịch sử. Hằng số lịch sử và tính hư cấu của thể loại tiểu thuyết đã giúp nhà văn.
tiếp cận lịch sử một cách đa chiều. "Nhìn lại lịch sử từ điểm nhìn dương dại, các nhà văn viết tiểu thuyết tỏ ra thành công khi đan dệt hai yếu tổ lịch sử - huyền sử, thực - hư để làm nỗi rõ lịch sử của một triều đại, đồng thời đó cũng là những vấn để quan tâm của. con người hôm nay. Có thể xem mỗi cuốn tiểu thuyết lịch sử là một cuộc đối thoại giữa quá khứ và hiện tại, là sự đan xen các mặt đối lập vốn có trong cuộc đời muôn thuở, thiện và ác, dục vọng và kiềm chế, đam mê và cuồng.
bạo, hảo nhoáng và phù du, chân thật và man trá. Với cách viết này, "mô hình duy nhất” về lịch sử bị phá vỡ. Cách dựng truyện phi thời gian, phi không gian, huyền ảo, đồng hiện, vô thức, dục. Sự đan quyện nhiều bút pháp chính là một sự thể nghiệm thành công của tiểu thuyết lịch sử những, năm gần đây.