CHƯƠNG 1 HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT NỮ TRONG TRUYỆN TRUYEN KỲ VIỆT NAM - NHÌN TỪ HƯỚNG TIẾP CẬN VA CÁCH ĐẠT VẤN DE lÓI QUAN HE VOL NHÀ NƯỚC PHONG KIÊN 1,1,1, Mối quan hệ đời tư = thế sự. "Văn học trừngdai Việt Nam mười thể kỉ là một dĩ sản văn học quý báu của dân tộc. Nó không chỉ dễ lại cho đời sau những giá tị thẩm nữ lớn lao về nội dung, nghệ thuật của những tác phẩm văn chương mà còn chứa dựng, trong đó nhiều giá trị văn hóa truyền thống cùng những niềm vui trăn trở, tâm. tư của người xưa gửi gắm đến đời sau, Lịch sử Việt Nam từ thế kỹ X — XIV là thời đại với nhiều biển có lịch sử.
Với chiến thắng năm 938, quân ta tiêu diệt quản Nam Hán có ý nghĩa quan trong, kl phục nền độc lập tự chủ, đồng thời đã giải phóng dân tộc. khỏi ach théng tri của ngoại bang hàng nghỉ năm. Đã tạo niên một giai đoạn lịch sử đầy tự hào: giai đoạn phục hưng và phát triển của dân tộ về mọi mặt. Chính quyền phong kiến tự chủ đã nhanh chóng củng cố để đi đến tập trung, quyền kiểm soát lãnh đạo toàn đất nước vẻ tay triều đình.
Giai đoạn này, Đại 'Việt thực sự đã trở thành một quốc gia phong kiến độc lập vững mạnh. Ở cu thé ky XIV, giai cấp phong kiến quý tộc triều Trần suy yếu. Tình trạng xã hội có nhiều biến đổi làm cho lòng dân li tán, thế nước không yên dẫn đến thảm. họa giặc Minh thôn tính nước ta, Trên tỉnh thần dé lich sử đặt ra cho các tác giả từ thế kỷ X = XIV là khôi phục một cách toàn điện nền văn hiến dân tộc, động viên nhân dân đứng lên xây dựng và bảo vệ đất nước.
12 'Văn học thể kỷ X — XIV là một nền văn học đậm đà tỉnh thần dân tộc và chất nhân văn. Văn học phản ánh trung thực một đời sống xã hội khá tươi vui và hạnh phúc, một đời sống tỉnh thần đặc biệt cởi mở. Nền văn học ấy đã dể lại những bài học yêu nước và nhân văn to lớn. Lịch sử Việt Nam giai đoạn từ thế kỷ XV cho đến thế kỷ XIX, chimg kiến nhiều biến có lớn lao.
Chế độ phong kiến bước vào thời kì nghiêm trong. Nhân dân nỗi lên khắp nơi mà tiêu biểu là phong trào Tây Sơn lật đỗ các tập. đoàn phong kiến thống trị ở Đảng ngoài, Dàng trong và bảo vệ thành công. niển độc lập dân tộc.
Chỉ tiếc là phong trào Tây Sơn chưa tồn tại được bao lâu thì nội bộ mâu thuẫn, lực lượngbị chia rẽ dẫn tới diệt vong. Trước những ảnh hưởng của xã hội, văn học trung đại cũng không ngừng thay đôi để phát triển. 'Văn học trung đ; ói chung và văn học truyền kỳ nói riêng đã phản ánh những mặt trái của xã hội, phản ánh những số phận “đoạn trường” của những. kiếp người thấp cỗ bé họng, những thân phận nhỏ không bằng “con ong cái kiến".
Trong những trang văn đó, ta bắt gặp hình ảnh đáng thương của. những người phụ nữ chịu nhiều đau khổ, bắt công cửa xã hội. Trong các truyện: Truyện kỳ tân phá, Truyền kỳ mạn lục, Tân truyền kỳ: Tuc déu nói lên thực trạng của triều đình phong kiến, như 7ruyện bữa tiệc đêm ở Đà Giang đề cập những thú vui cá nhân của Trần Phế Đề: “Công việc săn bắn. đương mùa hạ mà giở những công việc khổ dân không phải thời, dầy trên lúa dé thỏa cái ham thích săn bản không phải chỗ” [S, tr.
Điều này cũng tương tự như Lý Hữu Chỉ trong Truyén Ly “ướng quản: “Quyền vị đã cao, Lý bèn làm những việc trái phép dựa lũ trộm cướp như lòng muột, coi người nho sĩ như cừu thù, thích sắc đẹp, ham tiền tài. nạn nhân cho sự suy vong này không sĩ khác là những người phụ nữ. 'Văn học luôn là tắm gương phản chiếu của thời đại. Trong Ké minh thập sách do nàng Bích Châu soạn cho vưa Trần đã nêu lên những thực trang 13 của xã hội thời bay giờ: “Kim chế kế quyền thẳn, để ngăn ngừa chính sự mọt nát, bỏ bớt những kẻ những lạm để trừ tệ khoét đục của dân, mở đường cho.
người nị thẳng để cho cửa thành cùng với đường can gián đều mở toang” [4I. Xã hội đầy nhiễu nhương ấy cũng xuất hiện trên những trang văn của Nguyễn Dữ. Cảnh đất nước chìm trong khói lửa, cảnh những người vợ. phải xa chồng biền biệt là những điều dễ thấy trong Truyén kỳ mạn lục: “Bấy giờ bình lửa rối ren, đường sá hiểm trở, hắn phải lận đận hàng tuần mới vào được Nghệ An” [8, 25], Nhị Khanh phải xa chồng mà không biết đến ngày nào đoàn tụ trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu: “Dường sả xa xăm, ta không muốn đem đàn ba con gái theo,.
Đợi khi sông bằng nước phẳng, vợ. chồng cơn sẽ lại cùng nhau tương kiến” [S, tr. Hay đó là cảnh vắng vẻ cô phòng mà Vũ Nương phải chịu đựng khi cÍ tự ra trận: "Cuộc đoàn viên chưa được bấy lâu thì nhà nước có việc đi đánh Chiêm thành, bắt đến nhiều lính trắng. Trương tuy là con nhà dòng, nhưng không có học, tên đã ghỉ trong số khai trắng phải ra sung bình loạt đầu” [8, tr.
Sự suy đổi của chế độ nhà nước phong kiến đã ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc đời và số phận của những. người phụ nữ. Tình yêu của chàng Sinh và nàng Túy Tiêu trong Chuyện nàng Túy Tiêu bỗng chốc trở nên bỉ kịch vì thói ngang ngược của tên quan Trụ Quốc: “Năm Mậu Tuất (1358), nhân gặp khoa thi, Sinh sắm sửa hành trang, lên kinh; không nỡ rời nhau, nên đem theo cả nàng di cling, cùng trọ tại phố Phường Thái ở cửa sông. Gặp ngày mồng một đầu năm, Túy Tiêu rủ mấy người bạn gái, đến chùa tháp Báo Thiên dking hương lễ Phật.
Bấy giờ có quan 'Trụ quốc họ Thân thầm đi chơi phó, trông thấy Túy Tiêu đẹp, bắt cướp dem về làm của n. Sinh làm đơn kiện tận triều đình, nhưng vì họ Thân uy thế tất lớn, các tòa các sở đều tránh kẻ quyền hào, gác bát không đám xét xử” |8, tr. Cái chết oan uỗng của nàng Lệ Nương trong Chuyện Lệ Nương cũng. một phần xuất phát từ triều đình phong kiến, Lệ Nương là cháu ngoại Trần 14 y nhưng không, à bắt bớ cả những người thân thuộc Lệ Nương, Nàng bị bắt làm cung nữ của nhà Hỗ và cuối cùng nàng đã chọn cái chết để.
kết thúc cuộc đời đau khổ của mình. “Nay nếu theo họ sang qua cửa ải tức là đến nước non quê người, thà rằng chết dắp ở ngòi lạch gằn gũi quê hương còn hơn làm nhữngcô hỗn bên đắt Bắc [8, tr. Qua cái chết của Lệ Nương ta thấy nỗi đau mắt nước nhà tan đã ảnh hưởng đến số phận của những người. xã hội phong kiến xưa.
phụ nữ trong 'Cũng vì những cuộc chiến tranh mà những người vợtrong Truyền hai nữ: thân đã phải sống trong cảnh cô đơn chờ đợi mòn mỗi. Người ra đi với lời hợn đợi ba năm sa khi đại định, lại sẽ cùng nhau chăn gối như xưa” Thế nhưng "thiếp hằngở trong thạch động, bắm đối tay, đến nay đã hai mươi B tr.520| mà người chồng vẫn chưa về. SỐ phận của những người phụ nữ luôn bị phụ thuộc vào người đàn ông, Thời cuộc đã chỉ phối rất nhiều đến những suy nghĩ và hành động của đắng nam nhỉ đương thời và điều đó đã kéo theo những. ảnh hưởng không nhỏ đến số phận nhỏ bé cửa những người phụ nữ.
Các tác phẩm trong Truyễn kỳ Tân phá của Đoàn Thị Điểm, không chỉ nói lên thực trạng của triều đình mà còn nói đến những vấn đề của xã hội lúc bay gid qua ban Ké minh tháp sách do Nàng Bích Châu soạn cho vua. thơ văn, âm luật, dâng kế sách giữ nước lên vua đứng đắn, tư dung xinh đẹp, thông hiểu âm luật Lê cung. Khi ấy, nàng cam Kê minh thập sich dng én” (10, 342}. Theo quan niện của Nho giáo, nam giới mới là người có thé tham gia vào công việc triều chính, là người ra quyết 15 định những vĩ lớn lao của đất nước.
Tuy nhiên, nàng Bích Châu đã vượt qua định kiến ấy và dâng lên nhà vua những yếu sá ờ sớ ấy dâng lên vua, vua cả mừng gõ vào cái phách mà rằng: “Không ngờ một nữ nhỉ lại thông tuệ đến thế! Thật là một Từ Phi ở trong cưng của trằm vậy” [10, tr. Sự thông tuệ của Bích Châu được thể hiện rõ hơn ở việc bàn việc quân với nhà vua: “Thiếp trộm nghĩ, rợ Hiểm Doãn ngang tàng quá lắm, từ trước quen thân, rợ Hung Nô hiệt kệ gớm ghê, đến nay càng tệ. Vì cướp bóc là cái thói thường của man di mà dùng bỉnh không phải bản tâm của vương giả, Nước. nhỏ Chiêm Thành ở mãi nơi hải đảo.
Năm xưa kéo quân vào đến Nhị Thủy vì thấy được nước ta bắt hòa, khi ấy tiếng trống động ngoài biên, chi vì lòng dân. Cho nên dám tung đàn ruồi nhặng để múa cỏ có khác nào giơ càng. bọ ngựa ngăn bánh xe. Nhưng thánh nhân rộng lượng bao dung không thèm cùng với chó dê so sánh, hơn nữa trị đức trước gốc sau ngọn, xin nghỉ binh.
cho dân chúng yên hàn, trị cái rắn dùng cái mềm, thu phục người xưa bằng. Ngu Bệ múa can vũ, bay tuần tức khắc người Miêu kia đến chầu. Hạ Cung gãy sắt cằm, chẵn tháng tự nhiên Hồ quy phục” [10, tr. Đoàn Thị Điển đã cho người đọc có cái nhìn khác về người phụ nữ khi tác giả đã tô dâm nàng Bich Châu với những đặc điểm nghiêng về lý trí, có những đóng sóp tích cực cho thời cuộc đường thời, Không chỉ giúp vua những việc chính sự mà người phụ nữ ấy đã còn dám lấy than minh dé Ấy sự bình yên cho.
i tuy phận gái nhưng cũng được theo. đồi nghiên bút, có tin mê những việc ma quỷ đâu. Nhưng khốn việc đã đến nơi, thế không dừng được. Ví bằng nắn ná, rằng xảy ra tai ién, có khi hải hành quân, tướng sĩ là trong, ân ái là nhẹ, đời ing là do vạn bắt đắc đĩ" [10 tr.
Các tác giả đã cho thấy rằng trong xã hội phong kiến dù họ có thông, minh, xinh đẹp, tài giỏi i, ngoan hiển hay đức hạnh, thủy chung thi cuối cùng, 16 vẫn không tránh khỏi bỉ kịch cuộc đời.