CHƯƠNG I : NHÌN LẠI HÌNH TƯỢNG NÔNG DÂN TRONG VAN XUÔI HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRƯỚC: NGUYEN MINH CHAU 1.Hình tượng người nông dân trong văn xuôi trước Cách mạng thang 1. Trong vẫn học trung dai “Từ nghìn xưa, người nông dân đã đi vào văn học dân gian với thân phận cái cái vạc. Đó chỉnh là những cư dân nông dẫn của vùng vin minh lúa nước. Bóng đắng họ có trong thân cỏ lặn lội, trong con bọ ngựa, con chit chuộc.
như một ẫn dụ nghệ thuật của người bình đã "Từ thời cổ đại người xưa đã nhận thức sâu sắc vỀ người nông đân và để cao vai trò của họ. Chẳng phải tư tưởng *Đôn ví bản” đã được Á thánh Mạnh ‘Tit xién dương đồ sao: *Dân ví quý, xã tắc thứ chỉ, quân vi khinh". Dân là quý nhất, sau đó mới đến giang sơn xã tắc, còn vua thì xem nhẹ. Thể nhưng, hình ảnh người nông din trong văn học trung đại Việt Nam chi thn tei như một ý niệm mà thôi.
Đó là cái bóng đáng "Dán đơn-con đỏ trước họa diệt chủng, của quân cuồng Minh trong Đại Cáo Bình Ngô của Nguyễn Trãi: “Nướng đân đen trên ngọn lửa hung tần - Vi con đó xuống dưới hằm tai vụ”. “Dân den - con đỏ” chỉ là sự gọi tên cho những nạn nhân khổ đau dưới gằm tờ trước họn cdiệt chủng của kẻ thù phương Bắc chứ không phải là những bản thể để tác giả tham chiếu và chiêm nghiệm đến tân cũng. Ngay cả Nguyễn Dữ cũng không vượt qua “giới hạn” này, Truyện Người com gái Nam Xương là một minh chứng. Nỗi oan khiên của Vũ Thị Thiết suy cho cũng cũng chỉ là những điều mà tác giả mắt thấy tai nghe rồi được kể lại như một câu chuyện nhãn tiền.
xót có dau diy nhưng kết thúc bằng một "màn sương huyễn bỈ" theo kiểu truyện cổ tích thần kỳ. Nghĩa là nỗi đau trần thể của người nông dân chỉ được kể lại bằng "một câu chuyện buồn” với nỗi oán trách Trương Sinh ghen tung, vô cỡ chứ không nhận thức sâu sắc rẳng đây cũng là một trong rất nhiều hệ lụy do chiến tranh phi nghĩa gây ra. Một thứ “nổi buổn chiến tranh” thời xa vắng. 'Nhìn chung, người nông dân chưa từng đi vào văn học trung đại như một khách thể thẩm mỹ, một đổi tượng phản ánh, cho dù trong “tứ dân” họ đứng ở vị trí thứ hai “sĩ - nông- công- thương Đi này cũng không khó lý giải bởi người sing tác của văn học trung đại hầu hết là nhả nho, trong khi cái nhìn của họ chịu sự chỉ phối của lăng kinh "cửa Khổng sản Trình”.
Người nông dân chỉ la “thir din” theo đúng nghĩa đen của từ : *Qun dữ chỉ đức phongtháo dân chỉ đức thảo.Thảo thượng chỉ phong tức yêu” (Cái đức của quân tử như gió, cái đức của thảo dân như cỏ. Gió thôi tức cỏ rap theo). Ho (Rgười nông dân) chỉ là những chiếc bóng mờ đằng sau, bên đưới những trượng phu, văn nhân. mà thôi Phải chữ đến Văn of nghĩa sĩ Cần Giuộc, người nông dân mới thực sự i vio văn học thành văn như những người anh hùng.
“Thật vậy, lần đầu tiên trong văn học, người nông dân hiện lên từ hình ‘ding lam lũ bề ngoài đến phẩm chất, tâm trạng và hành động anh hing trước họa ngoại xâm. Họ trở thành bức đượng đài kì vĩ về người nông dân anh hùng tuy thất thế nhưng vẫn hingang. Họ - những con người hấp cỗ bề họng ấy được đặt trong sự chọn lựa khắc nghỉ của lịch sử. Đồ là sự chọn lựa giữa Mười năm công vỡ rưộng” với "Một trân nghĩa đánh Tân ", Như thể sự tổn vững của sơn bà xế tắc nằm trong sự lựa chọn mmất còn này, ế là bản cl đẹp để từ nghìn đời đã bộc 'Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn, canh nổi tợ phao - Một trận nghĩa đánh T tạ: là mắt, tiếng vang như mí "Nghĩ là quyết, thấy chính nghĩa là làm, không một mảy may toan tỉnh thiệt hơn.
Không thể ngôi nhìn giang sơn chìm đắm, không thể hy vọng gì từ phía 3B triều dinh: “May giding ái Bắc trông tin nhan - Ngdy xé non Nam bat tiéng ông”. Một sự chuyển mình điệu kỹ trỗi dậy: Từ người nông dân chân lắm tay bùn trở thành người nghĩa sĩ đánh Tây. Từ những con người sống sau lũy tre xanh, chỉ biết ruộng trầu, ở theo làng bộ, thoát c trở thành những anh hùng. làm chủ chiến trường.
Lần đầu iên trong văn học, người nông dẫn được khắc họa với cảnh ngộ, tâm trạng và hành động anh hùng: Đó là tiếng súng xâm. lăng nỗ rễn trên quê cha đấttổ, mà trồng tin quan như trời han mong mưa. là lòng căm thù “ghét thỏi mọi như nhà nông ghét cỏ", *muốn tối ăn gan, muda ra cẩn cổ". Đô là sự lựa chọn gina sống và thác một cách hỗn nhiên vì xã tắc giang sơn và cuối cùng là hành động cao đẹp vì nghĩa cả quên thân để đi vào lịch sử.
Tuy nhiên, hình tượng người nông din trong văn học trung đại chỉ mới là những phác thảo. Họ xuất hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Trãi, Nguyễn Khuyến, Nguyễn Dữ. chỉ ở mức độ là “những điều trồng thấy” chứ chưa lầm “đau đớn lòng", chưa khai thác đến cũng cái bề sâu trong tâm hồn cũng. như thân phận của những con người "không ai nhớ mặt đặt tên nhưng họ đã làm ra đất nước”.
Những gì thuậc về con người, văn học trùng đại chưa vươn tới được. Có chăng chỉ là sự bày tỏ một thái độ, những cảm thông nhưng nhìn chung vẫn có một cái gì khoảng cách, thậm chí xa lạ. Trong vẫn học giai đoạn 1930-1945 1. Trong vấn học lãng man Nồi đến dòng văn học lăng mạn, không thể không nói đến Tự lực văn đoàn.
Văn phái này đã đưa ra tôn chỉ gồm chín điểm, trong đó có điểm này: “Ca tung những nét hay, vẻ đẹp của nước mà có tính cách bình dân. Không có tính cách trưởng giả quỷ phái”. Và chính Nhắt Linh - một trong những trụ cột của Tự lực văn đoàn đã có lần tuyên bố trên báo Tin tức,cơ quan của Mặt trân Dân chủ Bắc ky: ôi vẫn tha thiết mong cho đám bình dân thiệt thỏi và 4 thấp kém trong xã hội có những quyền sống mà họ thiểu thốn. Tôi đã thất vạng nhiều lần, thất vọng như bao nhiêu người khác đã quá mong moi & những nơi không nên mong mỏi.
Mặt trận Bình dân Đông Dương mới thành lập đem lại cho tôi một tia ánh sáng ly vọng. Lẫy trách nhiệm là một nhà văn cùng với những đẳng chỉ khác, tay cằm tay đứng trong hàng ngũ, tôi xin hết sức giúp một phần nhỏ vào công cuộc đòi quyÈn sắng của hết thấy anh em bị thiệt: Mặt trận Bình di của cơ hội chủ nghĩa, nhưng chúng ta có thể tỉn vào những phát biểu chân thành của Nhất Linh nói riêng và các nhà văn của Tự lực văn đoàn nói chung trên báo. chí và cả trong tác phẩm. Trong truyén NO 1, Nhất Linh vạch trằn những thủ đoạn cướp đoạt suông đất nông dân của một tên chủ đồn điễn cả phê ở Thanh Sơn.
Những người nông dân trước đây đang tự do, "ruộng mình mình cấy ", “đường mình minh đi”, “nghênh ngang ai nát ai cắm ” bây giờ mắt ruộng.hóa thành những, tên nô lệ làm phu trong đồn dién. “Thực lòng mà nói, tuy chứng tỏ ra đau nhức trước thân phận người nông dân, nhưng trong hoàn cảnh lúc bấy giờ, những suy nghĩ của Nhất Linh là tiến bộ, đủ chỉ là những nhận thức ban đầu của tí thức tự trọng. Đó thực sự là những băn khoăn của nhà văn về số phận của người bình dân. Tác phim Hai vé dep cia Nhi Linh đặt ra câu hỏi là giữa hai vẻ đẹp, nghề thuật và nhân sinh thì vẻ đẹp nào đẹp hơn? Và câu trả lời đó là vẻ đẹp nhân sinh,lấy chủ đề về nông thôn, về suy nghĩ của người thanh niên muốn gắn bó với quê hương, phục vụ quê hương.
Tác phẩm vẫn là câu chuyện về cái tôi, "cái tôi” đi tìm hạnh phúc trong con đường phục vụ tằng lớp bình dân. Nhân vật chính. là Doãn, một chẳng thanh niên vốn con nhà nghèo, nhưng làm em nuôi bà “Thượng nên được sang Pháp du hoe, thi đỗ cử nhân Luật. Anh ta không thích làm quan, suốt ngây mải mê vẽ những bức tranh vỀ nông thôn, vì Doãn muốn 1s gần gũi với nỗi khổ của dân quê.
Tuy nhiên, do sống xa quê hương từ thuở bé. nên chẳng không nhận được cái sục sôi, hãng say lao động vả những nhọc nhằn của cuộc sống đời thực. Vì thế nên tác phẩm thiếu đi sức nóng, hình tượng nhân vật không sống được, chỉ là những minh hoa của mệnh đẻ. Hanh déng của Doãn đôi khi làm ta cảm động nhưng cũng không ít đề dat Doan trở về với nông dân, nhưng lại đứng trong tư thể của người bề trên và ban ơn xuống.
Doãn cho rằng đó là nhiệm vụ của người tài tí có tiền. Sau những suy nghĩ lao lung, Doãn có một lời tự hứa nhưng tác phẩm đã kết thúc làm cho người đọc không khỏi băn khoăn bởi cái hướng còn quá mơ hỗ, không biết Doãn sẽ lâm được gì! “Tương tự, Duy trong Con đường sáng, Bảo, Hạc trong Gia dink cũng giải quyết vấn đề một cách mơ hỗ, không dứt khoái. Các nhân vật trong tiều thuyết của Tự lực văn đoàn nhìn thấy, biết được người dân đang bị áp bức, bóc lột tần bạo nhưng họ lại không có cách gi én thóa để giải quyết vấn đề ấy. "Đăng kế nhất phải nối đến Thạch Lam và Trần Tiêu.
Thật vậy, “hạch: Lam cé tỉnh thần dân tộc đậm đà và một sự cảm thông chân thành đối với những người dân quê nghèo khổ” [4]. Trong các truyện ngắn Gió lạnh đầu màa, Nhà mẹ Lê, Hai đứu trẻ. Thạch Lam viết về những người dân nghèo. xóm chợ với niễm cảm thương chân thành, sâu lắng.
Lm sao quên cảnh ngộ nhà mẹ Lê vật vã trong cơn đối: *Đân con bác Lê ôm chặt lấy nhau, rốt ru trong căn nhà ẩm tưới và tối tăm, vì đèn đóm không có nữa. Mấp gia đình ở' phố chợ đều đối rét, thd sé. Nhung méi nhà đều lặng lẽ, âm thâm chịu khổ một mình, không than thở với láng giềng hàng xóm, boi vì ai nấy đầu biết cũng nghèo khổ như nhau. Truyện kết thúc bằng cái chết của mẹ Lê, một kết thúc đã báo trước bởi cậu Phúc con ông Bá đã hãm dọa nếu.
én cdu xin lằn nữa nó sẽ thả chó ra cắn. Nhưng mẹ Lê vẫn cứ đến nhà ông Bá bởi “ong lòng vẫn còn chút ly vọng, tuy buổi sáng, lúc vào xin gao, ông 16 Bé da dudi mắng không cho ”.