Chương 1: Tiểu thủy Nguyễn Đình Tú ~ “khuôn mặt mới" của văn xuôi "Việt Nam đương đại Chương 2: Hình tượng không gian trong tiêu thuyết Nguyễn Đình Tú “Chương 3: Hình tượng thời gian trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Tú CHUONG 1 TIỂU THUYẾT NGUYÊN ĐÌNH TU - "KHUON MAT MOI" CUA VAN XUOI VIET NAM DUONG ĐẠI Mật số đặ lật của tiểu thuyết Việt Nam đương đại 1. ĐỗI mới về quan niệm nghệ thuật XXã hội Việt Nam từ sau 1986 đến nay đã có những bước phát triển vượt bậc. Hòa chung với xu hướng thời dại, tiểu thuyết cũng có những thay đổi lớn. Tiểu thuyết đã có những phát triển mạnh mẽ và phát triển không chỉ ở đội ngũ các nhà văn ngày cảng đông đảo, ngày càng nhiều tác phẩm mới ra đời, mà cái quan trọng hơn là đã có sự đổi mới về quan niệm nghệ thuật Hướng đến tính dân chủ là điểm nỗi bật trong quan niệm tiểu thuyết của các cây bút hiện đại.
Tính chất dân chủ thể hiện trước hết ở việc giải phông tiểu thuyết khỏi nhiệm vụ phản ánh hiện thực một cách đẩy đủ. Tiểu thuyết giờ đây không còn là tắm gương soi của thời đại, không nhất thiết phải là một hiện thực kha tin như quan niệm của nhà văn Nguyễn Công Hoan trước đầy: tiễu thuyết là bịa như thậP, Ở góc độ chủ thể sắng tạo, tính dân chủ sêu thuyết không chỉ là tiếng nói của dân tộc và thời đại mà quan trọng hơn còn là phát ngôn thể hiện tư tưởng, quan niệm riêng của người nghệ sĩ. Nhà văn hoàn toàn có quyền dé xuất những chuẩn mực giá trị mới, có quyển trình bảy những kinh nghiệm cá nhân. Nhà văn phải thể hiện ai tò của chủ thể sáng tạo, lý giải đời sống từ cái nhìn nghệ thuật riêng của mình.
Nhà văn phái chứng tỏ được tải năng, sự dấn thân tìm đường riêng, không lẫn vào những người đi trước, Như vậy, thuyết phải đáp ứng nhủ cầu tỉnh thần con người, làm con người sống có ý nghĩ 1, sâu sắc hơn, nhân. văn hơn trong xã hội hiện đại. Vậy hướng đến tính dân chủ rong tiễu thuyế giúp nhà văn tự chủ về chính ngồi bút của mình theo một quan niệm nghệ thuật riêng. "Hướng đến tính trở chơi cũng là một quan niệm mới về tiểu thuyết.
Đĩ vào tác phẩm nghệ thuật, những đặc điểm này của trò chơi động tích cực đối với người đọc. Các nhả văn đã phát huy vai trở của nó để kích thích sự tò mò, niềm hứng thú và khả năng khám phá thế giới nghệ thuật của con người. Trong văn học Việt Nam hiện đại, quan niệm về tính trồ chơi của tiêu thuyết lẫn đầu tiên được đặt ra bởi nhà văn Phạm Thị Hoài vào năm 1988 khi túc giả tình làng ễu thuyết 7hiền sứ: Tính trỏ chơi đã giải phóng tiễu thuyết khỏi chức năng giáo huấn, bớt đi tính chất nghiêm trang và để cao tính giải trí ~ một chức năng quan trọng của văn chương. Mặt khác, nh trò chơi giúp cho nhà văn thỏa sức sáng tạo, được quyền tự do thể nghiệm những hình thức nghệ thuật mới.
Tác giả có thể tạo ra một thể giới giả tưởng hoàn toàn không có thật, không đáng tin, nhung cling khong cf thuyết phục ban doe phi vào thể giới đó. Trong Cõi người rung chuông tận thế, Hồ Anh Thái kể lại hành trình đi trừng phạt cái ác của cô bé Mai Trừng theo lời “nguyện” cũng là k “nguyén” của người mẹ trước khi mắt vừa logic, vừa phỉ lý nhưng cũng thật hấp dẫn. Cuối cũng, sự thức tỉnh của “nhân bản” trong con người đã hóa giải lồi nguyễn. Hay câu chuyện về những suy nghĩ và cảm nhận về thể giới con người cũng như ý thức "tì hoãn sự ra đời” của bảo thai trong Thiền than sim hổi của Tạ Duy Anh.
Nhờ đó mà nhà văn có th tự do nổi lên sự thật về xã hội, về con người, Và hiệu ứng thẩm mỹ tạo nên ở người đọc từ ính trở chơi của các tác phẩm ấy cũng hoàn toàn có thật. Đó là nỗi băn khoăn trước sự nhồ nhãng của con người, trước tình trạng nhiễu loạn của xã hội hiện đại trong Thién siz. D6 là sự bắt an trước cái xắu, cái ác mỗi ngày vẫn đang hoành "hành trong đời sống xã hội mã con người chỉ có thể diệt trừ bằng “phép mẫu” của trí tưởng tượng (Cöi người rưng chuông tận thế). Đó là khát vọng nhân.
‘ban vé cai đẹp, cái thiện và sự ý thức về “nỗi đau làm người” của con người trong cái nhìn của thế hệ tương lá. hang quan niệm tiêu thuy này thể hiện khát vọng vượt lên những đường môn” trong sing tạo nghệ thuật của c nhà văn. Tuy chưa phải tất cả những tiều thuyết ra đời trong thời gian qua đều đạt hiệu quả nghệ thuật nhưng cùng với quan niệm hướng đến tính dân chủ và hướng đến tính trò chơi, tiễu thuyết sẽ rút ngắn khoảng cách giữa nhà văn ~ tác phẩm với người đọc. Doi méi về đề tài, nhân vật ‘Tir sau 1986 đến nay, đề tài đời tư, để tài đạo đức, thế sự phát triển "mạnh và dần trở thành chính yếu.
Tiểu thuyết đương đại đã “xông vào” mọi ngõ ngách của đời sống xã hội, đối thoại với đời sống, đối thoại với cuộc đời để nắm bắt được hôm nay bÈ bộn, ngôn ngang bóng tối vi dn sing” (Nguyễn Khải), đồng thời "lặn sâu” vào tâm hồn con người để lắng nghe tắt cả những âm vang của tiếng lòng bí ấn trong con người. Có thể nói, chưa bao giờ những vấn đề thuộc về đời sống xã he mà văn học quan tâm. chi thực, sống đông mà xót xa nhức nhối như thể trong ti nhà văn đã khai thác đến các "tằng via” của hiện thực đời sống qua số phận con người. Hàng loạt tiêu thuyết đã ra đời và gây được tiếng vang trên văn đàn.
Đồ là Cha và con, và. Một cõi nhân gian bé tí của Nguyễn Khải, Thời xe vắng của Lê Luu, Những mảnh đời den trắng của Nguyễn Quang Lập, Mia lé rụng trong vườn, Đám cưới không có giấy giá thú của Ma Văn Khang, Di vé nơi hoang đã của Nhật Tuấn, Trả giá của Triệu Xuân. Với việc phát triển để tài thể sự, đời tư, tiểu thuyết có thể đi sâu vào những nơi sâu kín của tâm hồn con người, suy nghĩ cặn kẽ về các trang thái nhân thể, nÌ trong hoàn cảnh một xã hội từ trong chiến tranh kéo dai bước sang đời sống hỏa bình đầy phức tạp và thử thách. Con người bình thường, đời thường được chú ÿ và thể hiện sâu với những số phân bắt hạnh, những thân phin bi ich, ng hạn như bĩ kịch của một thời con người phải hy sinh nhân để vươn tới "cái Ta” tập thể một cách giản đơn, cứng nhắc để đời thất bại (Thởi xa vắng ~ Lê Lựa).
Cắt nghĩa, lí giải, nhận thức lại hiện thực bằng cảm hứng bỉ kịch, tiểu thuyết hậu chiến đã thực sự đem lại cho người đọc những suy ngẫm sâu sắc: Mớnl đất tình yêu (Nguyễn Minh Chau), Chim én bay (Nguyén Trí Huân), Bến khóng chồng (Dương Hướng), Nỗi Buẩn chiến tranh (Bảo Ninh), Vong tròn bội bạc, Ăn mày đĩ vãng (Chu Tai). Sự xuất hiện của kiểu nhân vật mới trong tiểu thuyết chiến tranh - con người suy tư, con người bì kịch - là dấu hiệu quan trọng khẳng định sự đỗi mới tư duy nghệ thuật tiểu thuyết và xác lập lộ trình mới của văn học Việt Nam hiện đại. Nếu như trước đây, tiểu thuyết truyền thống thường chỉ có hai kiểu loại nhân vật đối lập là chính diện - phản diện thì tiểu thuyết đương đại xây dựng kiếu nhân vật phức hợp, đa bình diện. Đó là kiểu nhân vật có tính cách, tâm lý phúc tạp.
Nhân vật trong tiểu (huyết hiện đại khao khát sống, sống hết mình slin sing din thân, trải nghiệm. Các nhân vật wong Bi tim nhấn vật (Tạ Duy Anh), Thoạt th vedi. Sự biểu hiện của những phức thể tính cách và tâm lý lại rất đa dạng: đó là kiểu các nhân vật phẩn thén (Khan trong Ngéi, Tính trong Thoại kÿ thủy), hoặc kiêu đa nhân vật (vừa là chứng nhân, nạn nhân, chủ thể của hoàn cảnh lịch sử). Điểm đặc biệt ở các kiểu nhân vật nêu trên là sự thể hiện ức tỉnh dục” đồng thời với vẫn đề "tâm linh”.
Và nhà văn đã coi “tình dục" như là lối dẫn vào tâm linh, từ đó thể hiện khát vọng tinh yêu, tình dục, khát vọng về giải phóng bản thẻ. Rồi kiểu nhân vat chức năng tự sự: nhân vật vừa đồng vai người kể chuyện, vừa trực. p tham gia cốt truyện, xuất hiện khá nhiều. Đó là cách nhà văn muốn th hiện tính dân chủ của văn xuôi hiện đại: xóa mở ranh giới giữa tác giả và nhân vật, người và người đọc trên văn bản.
Câu chuyện trở nên đa chiều, đa diện hơn do được trần thuật, được soi chiếu từ nhiều góc độ khác nhau. Tác phẩm trở nên đa thanh, đa nghĩa do có những cuộc "đối thoại” giữa các nhân vật, giữa nhân vật với tác giả và cuối cùng là giữa người đọc và tác phẩm. Tuy chưa thành phổ. biến nhưng kiểu nhân vật mang tính kỹ hiệu, biểu tượng và “phân nhân vật” cũng xuất hiện khá nhiều.
Đây là kiểu nhân vật không có tiểu sử hay tâm lý, tính cách mà chỉ còn là một cái tên, một thứ ký hiệu, biểu tượng (nhân vật “bảo thai" trong Thiên (hẳn sám hỏi, “cô gái điền” và “hẳn” trong Đi tìm nhân vật, *con cú” trong Thoqf kỳ dhủy,. Các hân vật” này chỉ hiện diện trong ình hài của những ký ức hư áo, không thể Úí giải và nhận thức hết nhưng có ÿ nghĩa lớn, thậm chí quan trọng. Ở một vài tác giả, ta còn thấy kiểu nhân vật “biến mắt” hay "không - nhân vật" như thường thấy trong "Tiểu thuyết mới” và "Phân tiêu thuyết”. Đây là kiểu nhân vật bị tha hóa, thậm chí bị "vật hóa (hư trong văn học phỉ lý) và biển mắt khỏi trình câu chuyện.
nhân vật "biến mắt" khỏi tiến trình tự sự tạo nên những “khoảng trống” những khúc *vô thanh” cho van bản. Mặc dù đã “mắt tích”, nhưng cái bóng. của nhân vật vẫn lúc ẫn lúc hiện, vẫn ám ảnh những người ở lại và tao ra hing loạt câu hỏi cho người đọc. Cuộc “cách mạng về nhân vật” bao giờ cũng là cuộc cách mạng tác động trực tiếp nhất đến cảm quan và tiếp nhân của độc giả nói chung.
Các nhà tiểu thuyết thuộc khuynh hướng cách tân đương đại (Nguyễn Bình Phương, Ta Duy Anh, Thuận.