Chương 1: Về cuộc đời, con người và sự nghiệp sáng tác của Nam Cao - Chương 2: Các dạng thức hình tượng con người cô đơn trong sáng tác của Nam Cao ~ Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng con người cô don trong sing tác của Nam Cao Chương l: 'CUỘC ĐỜI, CON NGƯỜI VÀ SỰ NGHIỆ CUA NAM CAO nết về cuộc đồi và con người 1. Bí kịch “vỡ mộng” “Xuất thân trong một gia định trung nông, Nam Cao là người có điều kiện học hết bậc thành chung. Thời đại mà Nam Cao sống tuy đất nước còn. nằm trong vòng nô lệ nhưng với vốn học vẫn Tây học, ý thức về cá nhân cá thể đã được thức tỉnh, một lớp người cùng thé hệ đã xuất hiện và khẳng định mình, Nam Cao đã từng mơ ước, khát vọng đi xa để làm nên nghiệp lớa, nhưng do nhiều hoàn cảnh, rức vọng không (hảnh, li trở về quê với bị kịch *vỡ mông” - bỉ kịch của một người "khát bay mà không có chân trời” Day học tư, làm văn, làm báo đễ kiếm sống trong nỗi đau tự thấy “đời thừa” ~ là cuộc đời của Nam Cao và cũng là một mảng thế giới nhân vật giảu chất tự thuật trong sắng tác của nhà văn.
“Trong các sáng tác về tài người trí thức như “Giang sáng", “Đời thửa", "Sống ma”, “Đôi mắt”. Người đọc sẽ thấy được hình tượng tác giả hóa thân vào từng nhân vật của mình. Chính là Điền trong “Giing sáng”, Hộ trong "Đời thừa”, Thứ trong "Sống mỏn”. ôm những ước mơ.
cháy bóng về nghề văn, về mộng viễn du, về tư cách đạo đức lâm người. "Nhưng cuối. cùng họ không thực hiện được, thậm chí những bước đi trong, cuộc đời hoàn toàn tỉ lệ nghịch với mơ ước và hoài bảo của họ. Đó chính là nguyên nhân làm nên bi kịch *vỡ mộng.
Bị kịch đó cũng chính là bi kịch của chính cuộc đời nhà văn. "Nguyên nhân làm nên bỉ kịch *vỡ mộng” của nhà văn không chỉ do hoàn cảnh gia đình, bản thân nhà văn mà còn bất nguồn từ hoàn cảnh xã hội. Nam Cao sống trong một hoàn cảnh lịch sử xã hội đặc biệt, những năm 1930 - 1940 là thời kì đen tối nhất của xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp. Lang Dai Hoàng, quê hương của nhà văn cũng như bao làng quê khác bị bóc lột thậm tệ, bị bọn cường hào ác bá hoành hành, đục khoét, nhan dân bị diy vio tinh trang bin cing hóa, phá sản không lối thoát.
Nhiễu người phải bỏ quê hương đi tha phương cầu thực, có người tìm đến cái chết. Tâm trang bắt an của mỗi con người có lẽ cảng được tô đâm hơn với những thắt ai của các cuộc nỗi đây để chống lại sự áp bức của ngoại bang, và kéo theo nỗi thất bại y, nhiên là những vết thương, những cái chết đau đớn. "Những phong trảo yêu nước mở ra đều bị thực dân Pháp khủng bổ và bắt bớ, những người yêu nước đều bị đưa ra đoạn đầu đài, chiến tranh thể giới thứ bai bùng nỗ với hing trigu người chết. Bản thân nhà văn có nhiều ước mơ hoài bão lúc bấy giờ cũng chịu hậu quả của nó bởi trường tư mà ông dang dạy phải đồng cửa.
Như vậy, trong “hành trang vốn liếng có được” về nghiệp sáng tác của Nam Cao, không chỉ có vẫn đề cái nghèo đối, sự ấp. bức về mặt vật chất, thể chất mà rõ rằng có sự khủng hoảng đến tận cùng trong đời sống tỉnh thần con người với một không khí tôi tăm, u ám, ngột ngạt. Và chúng tôi tin rằng, trước tỉnh thế bỉ đát của lịch sử, trước thảm trạng thân phận con người, Nam Cao bản đã cảm nhận một cách sâu sắc sự bắp bênh của mỗi kiếp người, và đó là những nhận thức mang ý nghĩa triết học, không hề cảm tính. Ông cũng sẽ thấy sự bắt an, sự thất vọng, tâm trạng.
khéng côn là tâm trạng của riêng ông mã là một thứ trạng thái tinh thân của cả cộng đồng. Tắt cả những điều đó in đậm dầu ấn hình tượng tác giả trong đề tài người trí thức. Đó là những cơn đói vật vã, sự sự tha hóa. đến tột độ của con người, ở trong đó cũng thấy những văn sĩ, những nhà giáo câm lặng trong sự thui chột của t năng và khát vọng, những con người sống phắp phông bắt an trong nỗi cô đơn và kiếp lưu đây.
đã cảm thấy được những thân phận đời thửa, thân phận nhỏ bé, những bỉ kịch cô đơn của con người *vỡ mộng” trong một xã hội đầy những tim luân, bế loạn lúc bấy giờ. “Cái mặt không chơi được” 'Trong nhiều truyện ngắn của mình, không ít lần Nam Cao đã đưa ra những lời tự bạch: “Ching may trời phú cho minh cái mặt không chơi được. ấy thì mình phải chịu"; Trong “Những chuyện không muốn viết”, Nam Cao. có tự họa mình một lần nữa: Tôi sẽ chẳng bao giờ đã động đến tôi - cái tôi đắng ghết.
cái tối rất xong. Bởi ti rất xoàng. Trọn đôi tối, tôi chỉlø chết đối. Như thể còn nghĩ đến cát to tát làm sao được? Nguyện vọng của tôi? Ấy là làm sao cho vợ có tiễn đong gạo, mua nước mắm và mua ba xu thuốc chốc đầu của bà lang lùn vẻ cho con.
Nói như vậy sợ hơi quá quất. Thục ra tôi cũng có chút mộng vẫn chương, nhưng cải mộng vẫn chương ấy cũng hơi. Tôi cũng muốn vừa có sự phụng, sự nghệ thuật lại vừa có thể kiểm tiên nuôi cả nhà. Nghĩa là tôi ham viết lắm.
Nhưng giá thử viết mà không được một đẳng xi: nhỏ thì tôi cũng ham vừa vừa thôi. Cải tôi của tôi sự thật thì nó bỉ ổi như thế đấy: thôi còn nói đến tôi làm gì? [§, tr 102-103]. Đồ chính là cái mặt không chơi được, là cát tôi đáng ghét của một con người có bễ ngoài lạnh ling, ít nối - một đặc đi nổi bật của con người Nam Cao. Qua câu chuyện mà ông viết về cái tôi của mình, rõ rằng bên cạnh ý thức “tự giới thiệu bản thân”, ông còn tự châm biểm mình một cách t nhị, và cũng nêu được hoàn cảnh bản thân sống giữa cuộc đời: Nhà văn phải đối mặt với diều kiện cho sự sống lúc by giờ luôn thiểu thốn, người cằm bút như ông cứ đau đáu một điều làm sao cho đủ miếng cơm ăn thì sống vì nghệ thuật sao cho cam lòng? Vậy mà khi tiếp xúc với tâm hồn tác giả qua những sáng tác, người đọc lại thấy hiện lên đó không phải là một tâm hỗn lạnh lũng vô cảm, một tâm hồn.
“không chơi được” mà ngược lại, là một con người luôn nhạy cảm, một trải tìm nồng hậu chan chữa yêu (hương, nhất là đối với người nông dân nghèo và những thân phận nhỏ bé trong xã hội cũ. Qua rất nhiều câu chuyện về những điều nhỏ bé, thầm kia, riêng tr trong sing tác của mình, Nam Cao đã tự biểu hiện là một con người - nhà văn có nội cảm sâu sắc, luôn soi xét và lục vẫn lương tâm, luôn tự thấy mình "có lỗi” để cổ gắng hoàn thiện bản thân mình. Câu chuyện “Mua nhà" mà tác giả kể lại là một mình chúng tiêu biểu. Sau khi bỏ nhiều công sức ra làm ăn lương thiện, kiếm được một sổ tiền, mua được.
căn nhà gỗ mà chủ nhân xấu số của nó là một kẻ cờ bạc phải bán đi để gần nợ. Thể là nơi đây, để một gia đình ấ cúng thì một gia đình khác lại không, có chốn nương thân. Tắm lòng của nhân vật *tôi” trong tác phẩm (cũng, chỉnh là hình ảnh tác giả) đã quan dau, ray rứt và cứ tự xỉ và mình mãi, dù đã tìm được lí do để tự động viên mình: "Nếu minh không mua thì người khác cũng mua” nhưng khi nghe một tiếng trẻ con khóc nức nở và hờ “Mẹ. ci” thi “tim tôi đông một cái như bước hụt.
Rồi nó đập loạng choạng. Tôi hơi lão đảo” và cái tôi đó tự nói với mình: *Tôi ác quái, Tôi ác quát Tôi đã tự thú với t it nhiều rồi I8, trl78]. Điều ao ước mà nhân vật “tôi” nói thay tác giả cuối câu chuyện là "Giá người ta vẫn có thể nghĩ đến mình mà. chẳng thiệt [8, tr 179], Viết như vậy không có nghĩa đây đơn thuần chỉ là việc “bán nha” hay “mua nhà” mà nó còn có tính chất triết lí sâu xa hhon dé thấy được nội tâm của tâm hồn một nhà văn Nam Cao dịu dàng và phong phú: trong truyện là tiếng nói thể hiện sự ước mong cho con người được sống hạnh phúc, được yên bình, ing thời con người nhà văn luôn thể hiện sự suy ngẫm về vấn hạnh phúc giữa cá nhân và xã hội.
Nam Cao đau đớn vì nhận ra giữa một chế độ người bóc lột người, hạnh phúc của người này được bù vào chính do sự mắt mát, tốn thương của kẻ khác. Nói như tác giả “ở cảnh như chúng ta bây giờ, hạnh phúc chỉ là chiếc chăn qua hẹp mà người này co thì người kia bị hở”. Cái đáng quý của tâm hỗn một nhà văn như Nam Cao là biết đau xót trước nỗi đau người khác, nhìn con người với tắm lòng đôn hậu chan chứa yêu thương. Từ những câu chuyện vụn vặt bảng ngày mà tác giả ghỉ lại để thấy ring Nam Cao là người có trái tìm nhân hậu nóng hỗi được giấu trong một khuôn mặt “khó ưa, lạnh lùng, không chơi được”.
Độc giá cũng nhận ra một điều sau những câu chuyện. mà tác giá gửi gắm, thì ra muỗn nhìn nhận một con người không phải chỉ nhìn nhận vẻ bề ngoài của họ bởi đôi khi con người nhìn bề ngoài đơn giản, không có gì đặc biệt nhưng bên trong lai là một tiêu vũ trụ thăm thẩm và. bao la “Qua những lời tự thuật mà nhà văn mượn lời nhân vật trong tác phẩm để phát biểu, để nói thay mình, người đọc phần nào hiểu được con người Nam Cao. Bề ngoài khó gần, *không chơi được” nhưng trong ông lại là con người chan chứa niềm tin yêu đổi với cuộc sống, một trái tim nặng nợ với đời, với quê hương và những người nghèo khổ bị áp bức, khinh miệt trong xã hội cũ.
Sự nghiệp sáng tác của Nam Cao 1. Hành trình sáng tác Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao là nhà văn sáng tác theo "khuynh hướng hiện thực. Tác phẩm của ông viết ra đều thông qua quá trình. thai nghén đầy xúc cảm, qua sự suy nghĩ chín chắn vẻ sự thể nghiệm ý thức.
chính tí xã hội của nhà văn trong đối sống thực tế. Trước Cách mạng, mặc i digu kiện sáng tác khó khăn nhưng ông vẫn cố gắng thể hiện rõ quan điểm sáng tác của mình dưới nhiều hình thức.