mở đầu cho cái “chiều lưu tả thực xã hội chủ nghĩa”. Đây cũng là cuốn tiểu thuyết đầu tiên ở Việt Nam viết về những người thợ mỏ. Tác giả đã vẽ lên bức tranh tổ cáo chế độ áp bức bóc. lột của thực dân Pháp và bọn tay sai đối với người lao động và sự xuất hiện chân dung đẹp đề của những người chiến sĩ đi gieo mầm cách mạng chuẩn bị cho một cuộc đổi đời.
Tiểu thuyết tâm lý xã hội của Lan Khai là những bức. tranh từ nông thôn đến thành thị, hằm mỏ, nhà trường và môi trường gia đình, xã hội với những cảnh đời và số phận riêng. Những tác phẩm viết về đề tài này có sự phối hợp linh hoạt giữa bút pháp hiện thực và lãng mạn, làm sống. đậy chiều sâu về đời sống nội tâm phức tạp của con người “thời kỳ Âu hóa” đầu thế kỷ XX.
Bước sang những năm 30, Lan Khai bắt đầu thử sức ở nhiều thể loại văn học và cho ra đời một lượng tác phẩm khá lớn ở nhiều mảng đề tài. ‘Ong không chỉ trung thành với mảnh đất tiểu thuyết mà còn lắn sang cả địa hạt của truyện ngắn, ký, lý luận phê bình, nghiên cứu, sưu tầm và dịch thuật. Ở thể loại tiểu thuyết, song song với mảng đề tài tâm lý xã hội, Lan Khai bắt đầu thử bút ở mảng đề tài lịch sử và đường rừng. tiểu thuyết lịch sử như Gái rhời loạn (1933), Chiếc ngai vàng (1935), Cái hột mận (1936), Ai lên phổ Cát (1937), Chế Bông Nga (1938).
cho thấy những bức tranh khác nhau về những biến cố trong tiến trình lịch sử dân tộc 18 Việt Nam. Riêng tiểu thuyết đường rừng đã làm nên thế mạnh trong sự nghiệp sáng tác của Lan Khai. Tiểu thuyết đường rừng của Lan Khai là những bức tranh về thế giới thiên nhiên và con người miền rừng muôn màu muôn vẻ được nhìn qua lăng kính của một nhà văn - họa sĩ. Với các tác tác phẩm tiêu biểu như: 2 ##Nỏ (1932), Mũi rên độc (1933), Lên thác xuống ghênh (1934), Rừng khuya (1935), Tiếng gọi của rừng thẳm (1936), Dấu ngựa trên sương (1939 - 1940).
Truyện đường rừng là một trong những đóng góp lớn của Lan Khai, cho thấy cái nhìn nhân văn vẻ thiên nhiên, đất nước, con người của người nghệ sĩ. Bằng những hình tượng nghệ thuật, Lan Khai đã góp phần xóa đi bức tường ngăn cách giữa miền ngược với miền xuôi, giữa cộng đồng các dân tộc khác nhau trên lãnh thỏ Việt Nam. Về truyện ngắn, Lan Khai sáng tác cả truyện ngắn đường rừng và truyện ngắn tâm lý xã hội. Các truyện ngắn hiện thực và lịch sử đường rừng như: Đảng.
là bức tranh mô tả bì kịch của những người lương thiện (đặc biệt là người phụ nữ) do thế lực hắc ám gây. ra, nhưng họ luôn có điểm tựa là tình yêu cao cá để đấu tranh quyết liệt với hoàn cảnh tăm tối. Những truyện ngắn tâm lý xã hội như: Khổ rỉnh (1930), tập Lần sự đời (1934), Thằng Gây (1934), Anh Xẩm (1934), Kiếp con tầm (1935). vi những cảnh đời thiểu cơm ăn áo mặc, tài năng bị khinh rẻ, tinh yéu bi chia lia, tình đời nhiều đen bạc.
thể hiện cái nhìn sâu sắc của. nhà văn vào chiều sâu tâm hồn con người và cuộc sống. Đương thời, Vũ Ngọc Phan nhận xét “Lan Khai có cây bút tải tình để viết truyện ngắn”, song. nhà văn không tập trung sáng tác nhiều ở thể loại này.
Lan Khai còn là tác giả của nhiều bài ký như ?rưởng hận ca về sự chết (1933), Sáu năm cách biệt, nay hôi cố hương (1933, viết cùng Yên Sơn), Thây đồ tôi (1933), Tập hồi ký nhan đề 8023 (viết 1930 - 1932, in 1935), Biệt y (1934), Cánh hoa 19 mua (1929, in 1935), Con ngựa hông của tôi (1930, in 1935), Đau và chết (1939). Đồ là những kỷ niệm lắng về tuổi thơ, quê hương, tình thầy nghĩa bạn, chặng đường tham gia cách mạng của nhà văn. Những trang ký của ông thường bồi hồi xúc cảm, lời văn nhẹ nhàng phảng phất âm điệu thi ca. Đẳng hành với công việc sáng tác, Lan Khai còn khẳng định được vị thể của một Nhà lý luận phê bình văn học mang tằm tư tưởng sâu xa bằng nhiều.
công trình như: Tai hoa. edi luy ngan đời (1934), Tình với cảnh (1934), Dep (1935) va hàng loạt bài viết trên Tạp chí Tao Dan nam 1939 nhu: Tinh cách Việt Nam trong văn chương. Thiên chức của văn sĩ Việt Nam, Cần một ông Trời, Cải nguy mắt gốc, Một lòng tin cẩn phải có, Bàn qua vẻ nghệ thuật, Một quan niệm về in chương, Phác họa hình dung và tâm tỉnh thì sĩ Tán Đà. Các tác phẩm lý luận và phê bình của ông tập trung vào vấn đề tinh dan te trong văn học; vai trò của người nghệ sĩ trước nhân dân và thời đại; vấn đề phản ánh hiện thực trong văn học; nhiệm vụ đổi mới, kế thừa và sáng tạo của nhà văn; việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt; con đường.
xây dựng "tân văn hóa Việt Nam” trong tương lai. Lan Khai là nhà văn đặc biệt để cao nền văn học bình dân và là người đi tiên phong trong việc sưu. tầm và nghiên cứu văn học dân gian các dân tộc thiểu số từ Việt Bắc tới Tây Nguyên, với những công trình tiêu biểu mang bút danh Lâm Tuyền Khách như: Gió múi trăng ngàn (1933), Những cấu hát xanh (1937). Qua hoạt động sưu tầm cho thấy, Lan Khai là người am hiểu nhiều ngôn ngữ, phong tục, tập quán và truyền thống văn hóa của đồng bảo miễn núi, thể hiện bằng.
năng lực dịch thuật tài hoa “Từ năm 1940 trở về sau, Lan Khai tiếp tục khẳng định mình ở cả hoạt động sáng tác, phê bình và dịch thuật. Ở địa hạt tiểu thuyết, ông không còn sáng tác nhiều ở mảng để tài tâm lý xã hội và đường rừng, mà tập trung vào mảng đề tài lịch sử. Ông thai nghén và cho ra đời một số lượng lớn các tiểu 20 thuyết lịch sử như: Đính mon Thân (1940), Cười đầu voi đữ (1940), Gửi cái xuân tàn (1941), Trăng nước hô Tây (1941), Treo bức chiến bào (1942), Trong cơn binh lửa (1943), Tình ngoài muôn dặm (1943), Ái tình và sự nghiệp (1942), Giác mơ bạo chúa (1942). Viết tiểu thuyết lịch sử, Lan Khai không chỉ nhằm tái hiện các nhân vật và sự kiện lịch sử bằng nhãn quan nghệ sĩ, mà còn thể hiện quan niệm nghệ thuật và quan niệm nhân sinh mới qua các hình tượng như vấn để thế sự, cái thiện và cái ác, tình yêu và hạnh phúc, vẻ đẹp trí tuệ và khát vọng của con người.
Ở địa hạt truyện ngắn, Lan Khai bắt đầu thể nghiệm với nhiều truyện kinh dị đường rừng như: Ngwdi la, Ma thuông luông, Con thuông luông nhà họ Ma, Con bỏ dưới Thúy Tê, Người hóa h , Đôi vịt con, Mũi tên đẹp loạn, Tiên mắt lực, Gò Thân (in trong tập Truyện đường rừng - 1940). *Truyện lạ đường rừng” của Lan Khai thể hiện một năng lực tưởng tượng vô cùng phong phú và sinh động nhằm kích thích sự tò mò, hiếu kỳ của độc giả về những bí én và những câu chuyện hoang. đường ở chốn sơn lâm. Ngoài ra, truyện truyền kỳ của Lan Khai còn mang ý nghĩa phê phán những hành động phá hoại môi trường, ca ngợi vẻ đẹp của thiên nhiên, của tình yêu thương và long chung thủy.
Ở lĩnh vực phê bình văn học, Lan Khai tiếp tục có những cống hiến rất đáng kể ở thể tài xây dựng chân. dung văn học, với những tác phẩm đặc sắc như: Lẻ Văn Trương (1940), Vũ Trọng Phung (1941). cho thay cai nhin kha sau sac va toan diện của ông về chân dung một số nhà van đương thời. Lan Khai đã nhìn rõ những điểm sáng tài năng và cả những bóng đêm tàn lụi trong thể giới những người cầm bút.
Ở hoạt động sưu tầm và dịch thuật, với quan niệm “Muốn giỏi ngoại ngữ thì phải dịch sách nhiều” (Mia xudn), Lan Khai da suu tam va chuyén dich những văn bản văn học các dân tộc thiểu số va tiếng nước ngoài sang tiếng Việt một cách nhuần nhị đem đến nhiều thông tin mới cho bạn đọc. Một số công trình dịch thuật tiêu biểu của ông như: đức thư của người không quen 21 (1940) cia Stefan Zweig, Cái đẹp với nghé thudt (1940) phing thuật của E Challaye, Tuổi tho (1944) hồi ức của L. Các tác phẩm dịch thuật của Lan Khai đều mang những nét độc đáo và sing tạo riêng chứ không hoàn toàn trùng khớp với nguyên bản. Nhìn lại hành trình sáng tạo nghệ thuật của Lan Khai, cho thấy dường, như người nghệ sĩ này luôn tham vọng làm tắt cả những gì cằn thiết cho văn chương nghệ thuật.
Ông viết nhiều, viết đều và hết sức đa dạng, đặc biệt sung. sức nhất trong khoảng từ giữa những năm 30 đến 1945. Bởi vậy với cuộc đời chưa tròn 40 tuổi và chưa đầy 20 năm lao động nghệ thuật, Lan Khai đã để lại một di sản văn nghệ lớn với nhiều đẻ tài và thể loại phong phú, góp phần làm. giàu đẹp thêm cho nên nghệ thuật dân tộc.
DONG GOP CUA LAN KHAI CHO VĂN HỌC HIỆN DAI QUA MANG PHONG TAC LICH SU" 1. Khái niệm phóng tác lịch sử Thể tài văn học lịch sử là một loại hình tiểu thuyết hoặc tác phẩm tự sự hư cấu lấy đề tài lịch sử làm nội dung chính. Đó là những tác phẩm kể về những biến cố lịch sử qua các thời đại, tái hiện lại các nhân vật lich sử, các. cuộc chiến tranh, các hoạt động bang giao.
Mạch nguồn của thể tài văn học lịch sử này đã có từ nền văn học Hy Lạp cổ đại với những tác phẩm như Lich sử của Hẻrodote, Lịch sử chiến tranh Pelopone; và được tiếp tục được kế thừa, phát triển ở La Mã cổ đại, Trung Hoa cổ trung đại và ở châu Âu thời trung đại. Sự hình thành của thể tài văn học lịch sử có ý nghĩa lớn đối với văn bọc nối chung, là sự đánh dẫu ÿ thức quan niệm về tính lịch sử trong sáng tạo văn học. Ở Việt Nam, thể tài văn học lịch sử xuất hiện từ thời trung đại với các tác phẩm như Nam iểu cổng nghiệp diễn chí của Nguyễn Khoa Chiêm, Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô Gia Văn Phái, Hoàng Việt long hưng chí. 22 của Ngô Giáp Đậu, Việt Lam tiểu sứ của Lê Hoan.
Đó là những tác phẩm viết về nhân vật, sự kiện lịch sử của dân tộc nhằm khơi dậy nơi người đọc tinh. thần yêu nước, lòng tự tôn đân tộc.