CHƯƠNG 1 HOÀN CẢNH RA ĐỜI NHỮNG SÁNG TÁC CUA THANH QUE VE DE TAI CHIEN TRANH 1.1, NHUNG NAM THANG CA DAN TOC “RA TRAN” CHONG MỸ, CỨU NƯỚC (1965 - 1975) 1. Bối cảnh lịch sử Chiến lược “chiến tranh đặc biệt” bị phá sản, từ đầu năm 1965, đế quốc Mỹ đã quyết định thành lập Bộ chỉ huy tác chiến tại Việt Nam, ð ạt đưa quân viễn chinh Mỹ và các nước chư hầu vào miễn Nam nước ta, tiến hành "chiến tranh cục bộ” và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng cả không quân, hải quân. 'Việc để quốc Mỹ thực hiện “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và mở rộng chiến tranh ở miễn Bắc làm cho tình hình nước ta từ ch “moe mira nude có chiến tranh, một mửa nước có hòa bình đã biển thành tình hình cả nước có. chiến tranh với hình thức và mức độ khác nhau ở mỗi miễn” [1, tr.
108] Trước tình hình đó, Đảng tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu. nước trong toàn quốc với quyết định: “Động viền lực lượng của cá nước, kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của để quốc Mỹ trong bắt cứ tình huống nào, để bảo vệ miền Bắc, giải phóng miễn Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cá nước, tiến tới hòa bình thông nhất nước. nhà” [1, tr634] 'Đà Nẵng là địa phương mà những đơn vị chiến đấu đầu tiên của quân Mỹ đặt chân xâm lược trên đất nước ta với tiêu đòan tên lửa Hawk của thủy. quân lục chiến đến ngày 2/8/1965.
Chỉ trong vòng 3 tháng sau đó, quân Mỹ. triển khai hoạt động càn quét, chốt điểm ở phía tây, tây bắc, trung, đông Hòa. Vang va hinh thành một hệ thống cứ điểm từ ranh núi xuống biển, tạo vành đai quân sự bảo vệ căn cứ liên hợp quân sự Đà Nẵng. Tiếp theo, chúng đưa quân hành khủng bố, đuổi dân gần 3 xã ở Quảng Nam để lấy đất xây dựng căn cứ Chu Lai và vành đai bảo vệ căn cứ.
Vang giải phỏng nông thôn, đẳng bằng, vùng căn cứ miễn núi, đặc biệt là những nơi có hành lang của ta đều biến thành nơi hứng chịu hàng tắn bom đạn, chất độc hóa học của quân Mỹ. Quân Mỹ, ngụy khủng bổ, giết chóc, thảm sát đồng bảo ta ngày cảng nhiều, khủng khiếp hơn, dã man hơn. Không, chỉ nhân dân trong nước căm phẫn mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã. bày tỏ thái độ phản đối trước sự tàn bạo của Mỹ, ngụy.
Trong những năm tháng ác liệt ấy, chúng tiến hành các chiến dịch tố cộng, diệt cộng, dìm phong trào cách mạng của ta trong biển máu, tiếp đến là. các cuộc cản quét, phi pháo, bom tọa độ, B52, pháo bầy, napan, cày ủi, xúc tất, tủy diệt sự sống, biến hàng làng mạc, đồng quê thành vùng trắng đất, trắng dân, giết hại dân lành. Mức độ ác liệt của chiến tranh tăng đột biến, Đảng ủy Quảng Đà đã phát động cao trào '“Toàn dân hiến kế đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” với các phong trảo thì đua "Tìm Mỹ mà đánh, lùng ngụy mà diệt”, "Tìm Mỹ mà đánh, gặp Mỹ là diệt”, “Trả thù giặc Mỹ bắn phá miền Bắc ruột thịt”. Qua đó, Dang bộ và nhân dân Quảng Nam — Đà Nẵng ra Nghị quyết đánh thắng giặc.
Mỹ với quyết tâm “Chưa giải phóng miễn Nam thì còn đánh, chiến tranh gì cũng đánh, đối tượng nào cũng đảnh, đông bao nhiêu cũng đánh và lâu dai bao nhiêu cũng đánh. chúng ta có nhiệm vu đẳnh Mỹ trước tiên bằng hai chân, ba mũi giáp công đề đóng góp kinh nghiệm cho toàn miễn và góp phân đánh bại ý chí xâm lược của đề quốc Mỹ” Trước những khó khăn, gian khổ như vậy, nhân dân vùng dat Quang su hy sinh, mat mát nhưng vẫn giữ vững niềm tin, lòng trung kiên, ý chí cách mạng, tiền công địch với những cách đánh linh hoạt, tài tình, trí tuệ, biểu hiện lòng dũng cảm khi chiến đấu và cũng đầy lòng nhân đạo, khoan hồng khi kẻ thù đã thua. Quảng Đà “manh đất nuôi ta thành dũng sĩ” Quang Nam - Đà Nẵng là địa bản chiến lược cực kỳ quan trọng, nơi đế quốc Mỹ và tay sai chọn làm thí điểm đánh phá ác liệt vào din, vào cơ sở cách mạng, cổ tách dân ra khỏi Đảng, làm suy yếu hệ thống lãnh đạo của. Đảng, phá thể trận chiến tranh nhân dân của ta.
Củng với quyết tâm của Đảng bộ và nhân dân Quảng Nam ~ Da Nẵng, các văn nghệ sĩ Khu V và Quảng Nam, Đà Nẵng đã hãng hái đi thực tế ở chiến trường để phản ánh cho nhân dân cả nước và thế giới biết sự đã man, hén hạ của kẻ thù và quyết tâm chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước của nhân dân ta ở vùng đất ác liệt này. Thời kỳ cam go, thử thách nhất ở chiến trường Khu V là vào những năm 1968 — 1970. Đây là thời gian đất và người Quảng Nam, Đà Nẵng phải chịu những đợt đói khát liên miên bởi chất độc hóa học Mỹ, bị hành hạ bởi bệnh sốt rét hoành hành, cướp đi bao mạng sống, bị địch rải thảm B52 khắp nơi, B57 tọa độ bất kể lúc nào, mùa màng thất bát, cây cối chết khô, thương. tích cả vùng rộng lớn.
Lợi dụng đó địch phát quang rừng núi, đánh chiếm đồng bằng, lấn dần các vùng giáp ranh. Đây cũng là năm Mỹ tung biệt kích nhiều nhất, rồi nạn Mỹ lết, Mỹ bò, Mỹ cõng. đánh phá sâu vào căn cứ cách. mạng của ta, làm suy yếu lực lượng ta, tạo nên những vùng trắng cơ sở, trắng.
Tình hình khó khăn ấy không những làm chùn bước mà còn nung nấu. thêm tỉnh thần của đội ngũ văn nghệ. Trong đó có lực lượng sáng tác văn học tiếp tục can trường, bền bĩ trong chiến đấu ở cả mặt trận và vùng căn cứ. Hầu hết những người làm nghệ thuật, viết văn đều đã ít nhất một lần đến đây ~ vùng đất Quảng Nam với sự "cầu khô, rồng hoác, thắp thoáng chỉ là vài hàng đương bị máy bay phat cụt ngọn trông xác xơ." [35, tr32] nhưng lại thôi thúc các cây bút “Phải đi đến đó, phải về đến đó.
Nó như đòi hỏi tự thân của thể xác. Không đi đến đó, không vẻ đến đó thì không có đau buôn, không có vui sướng, không có khát khao, không có hy vọng, không có hiểu biếu, không có tình yêu, không có hạnh phúc, nghĩa là không có tắt cả, nghĩa là không tần tại” [35, tr. Và khi đã đến vùng “đắt Quảng Nam chưa mưa đà thắm — rượu Hông Đào chưa nhắm đà say” thì họ khó mà rứt ra. được, như Thu Bồn từng viết “Đà Nẵng gọi ta như người mẹ gọi con / Như.
"người yêu gọi người yêu xa cách”. Các nhà văn — chiến sĩ lại lên đường, vượt qua bao gian lao, thử thách, tiếp tục những chuyển đi thực tế dài ngày hơn, vào những vùng ác liệt hơn, bám sát các vùng “thắt lưng địch”, tham gia các chiến dịch cùng bộ đội, du kích, cùng với nhân dân đấu tranh không vào khu dồn, trụ bám kiên cường, đành dân giữ đất, tăng gia sản xuất để tự có cái an, thực hiện những chuyến cðng hàng, tiếp tế. Từ đó, hằng loạt các tác phẩm văn học có giá trị mang hào khí bản anh hùng ca đã ra đời, như Gia đình má Báy, Mẫn và tôi của nhà. van Phan Tứ, Trường ca Chim Chỉ rao của nhà thơ Thu Bồn, Đất Quang cia nhà văn Nguyên Ngọc, Bức thie làng mực (truyện và ký) của Nguyễn Chí Trung, Mat biển mặt trận (truyện và ký) của Chu Cảm Phong, Những người con gái quê hương thơ Hai Lé, Lé reo, Xanh trong vườn Bác thơ Cao Phương, _Mảnh đắt nuôi ta thành dũng sĩ thơ Dương Hương Ly, Khẩu súng hành quân thơ Liên Nam.
Bước vào giai đoạn cam go của cuộc kháng chiến chống Mỹ giai doan 1965-1975, đã có những tài năng văn học dũng cảm chiến đấu và hy sinh tại chiến trường như Dương Thị Xuân Quý, Chu Cảm Phong, Nguyễn Mỹ. Bên cạnh đó, cũng đã nuôi dưỡng đội ngũ văn nghệ sĩ có bản lĩnh, tài năng đã được khẳng định qua thời gian như Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Phục, Cao Duy Thảo, Ngô Thế Oanh, Hoàng Minh Nhân, Nguyễn Bảo, Ngân Vịnh "Thanh Quế là một trong số những cây bút trẻ cùng thể hệ ấy. Ông vào chiến trường Khu V cuối năm 1969. Từ 1969 - 1975, ông là phóng viên chiến trường của tạp chí Văn nghệ Giái phóng Trung Trung bộ.
Ông còn trực tiếp tham gia cùng bộ đội, du kích chiến đấu, thu chiến lợi phẩm, tra hỏi tù bình trong nhiều trận đánh. Ông sống, công tác cùng nhân dân, cùng những người lính ở nhiều vùng chiến sự từ Quảng Đà đến Phú Yên. Ménh đất nuối ta thành đũng sĩ. Nhà thơ Bùi Minh Quốc (Dương Huong Ly) đã thay mặt biết bao thế hệ nhà văn — chiến sỹ nhận ra điều ấy.
“Chính tại mảnh đất này, noi day — nhân dân đã nuôi lớn tâm hồn, giáo dục tỉnh thần của những nhà văn, của những người cằm viết. Như nhà văn Nguyên. Ngọc cũng từng xác nhận “7öi yêu câu thơ ấy. Nó diễn đạt sự náo động mà cuộc chiến đang làm đậy lên trong lòng người nghệ sĩ.
Đến đây, anh cảm thấy rắt rõ: sống giữa cuộc chiến đấu này, nhân dân này, chính anh, anh cũng có thể trở thành ank hing!” (35, tr 388], 1. Vài nét về văn học viết về đề tài chiến tranh ở nước ta 'Văn học viết về đề tài chiến tranh là một mảng quan trọng của văn học “Cách mạng, làm nên điện mạo chủ yếu của văn học Việt Nam hiện đại. Văn học viết về đề tài chiến tranh đã có sự đóng góp trong việc xây dựng lý tưởng. thắm mỹ cho thế hệ của một thời đại và hướng dẫn người đọc tiếp cận thẩm.
Hơn thể nữa, văn học viết về đề tài chiến tranh đã góp phần không nhỏ. vào thắng lợi của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Suốt 30 năm kháng chiến chống Pháp rồi chống Mỹ, nhiều tác phẩm văn học hay vii tài chiến tranh đã xuất hiện: Viết Bắc thơ. Tu, Daw súng trăng treo thơ Chính Hữu, Người chiến sĩ thơ Nguyễn Đình Thị, Từ đềm 19 thơ Khương Hữu Dụng, Người người lớp lớp tiéu thuyết Trần Dẫn, Xung kích tiêu thuyết Nguyễn Đình Thị, Con rrâu tiểu thuyết Nguyễn Văn Bồng.
trong chống Pháp; Đất nước đứng lên tiểu thuyết Nguyên Ngọc, Vượt Côn Đảo tiểu thuyết Phùng Quán, Người mẹ cằm súng ký Nguyễn Thi, Hỏn Đắc tiểu thuyết Anh Đức, Miẫn và rối, Gia đình má Bảy tiêu thuyết Phan Tứ, Rừng U Minh tiêu thuyết Nguyễn Văn Bỗng, Chiếc lược ngà truyện ngắn Nguyễn.