CHƯƠNG 1 HO BIEU CHÁNH - NHÀ VAN NAM BO Vào những năm đầu thế kỷ XX, văn xuôi quốc ngữ bắt đầu xuất hiện, phát triển ở Nam Bộ và dẫn dân tr thành một bộ phận máu thịt của văn học. Có thể nói, ở giai đoạn này, Hồ Biểu Chánh chính là nhà văn tiêu. Tuy Hồ Biểu Chánh không phải là người tiên phong, mở ra một loại hình mới (văn xuôi quốc ngữ) như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản nhưng ông chính là người góp phần tích cực trong việc hiện thực hóa những ý tưởng văn chương mà các bậc tiền bối đã phác thảo. Bằng sự nghiệp trứt đồ sộ của mình, Hồ Biểu Chánh đã chứng minh một cách hùng hồn sự đúng.
đắn của chủ trương cách tân văn chương Việt, bước đầu đưa văn chương Việt Nam chuyển từ phạm trù văn học trung đại sang văn học hiện đại 1. HỖ BIÊU CHÁNH - NHÀ TIỂU THUYẾT TIÊU BIỂU GIAI DOAN DAU THE KY XX 1.1, Vài nét về tiểu sử Hồ Biểu Chánh. Hồ Biểu Chánh (1885 — 1958) tên thật là Hồ Văn Trung, bút hiệu Thứ: Tiên, tự là Biểu Chánh. Ông sinh vào ngày 01 tháng 10 năm 1885 tại làng Bình Thành, tỉnh Gò Công (nay là tỉnh Tiền Giang).
Thân phụ ông là cụ Hồ Hữu Tạo từng làm Hương Chủ và Chánh Bái, có công tranh đấu với làng Bình Xuân, giành được hơn sáu trăm mẫu ruộng làm công điền cho làng Bình. Thành, Hồ Biểu Chánh là con thứ năm trong số mười hai anh chị em. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, thuở thiếu thời, Hồ Biểu Chánh phải chịu nhiều vất vả, thiếu thốn. Năm lên 9 tuổi, ông bắt theo hoe chit Nho tại trường làng.
Quảng thời gian theo các lớp ấu học dùi mài chữ nghĩa và đạo lý thánh hiền không lâu, đến năm 13 tuổi thì ông chuyển sang học chữ quốc ngữ, chữ Pháp tại trường Vĩnh Lợi. Năm 1905, Hồ Biểu Chánh thi đậu. bằng Thành chung. Theo lời khuyên của một vị thầy giáo cũ, ông bỏ ý định xin di làm giáo viên để đăng ký thỉ ngạch ký lục.
Năm 1906, ông thi đậu Ký lục soái phủ Nam kỳ và được sơ bổ làm việc tai dinh Thượng thư ở Sài Gòn. Năm 1911, do bị nghỉ ngờ là thân thiện với nhom Nghich Pháp nên ông bị đổi đi Bạc Liêu. Dù rằng rất dé kiếm tiền từ nghề ký lục tại Bạc Liêu nhưng ông, đã giữ cho mình một cuộc đời thanh bạch. ‘Nam 1912, Hồ Biểu Chánh tình nguyện đi làm việc tại Cà Mau thay cho.
một đồng liêu có con nhỏ, làm việc tại đây được § tháng thì lại đổi đi Long. Trong khoảng thời gian này, ông đã cùng bạn bè trong hội Khuyến học Long Xuyên thành lập Đại Việt tap chi. Đây là một sự kiện mang ý nghĩa rất quan trọng trong cuộc đời trứ tác của ông. Năm 1918, Hồ Biểu Chánh về làm việc tại Gia Định.
Hai năm sau đó, ông làm việc tại văn phòng Thống đốc Nam kỳ. Năm 1921, ông thi đậu Tri huyện. Sáu năm sau, ông được thing Tri phủ, nhậm chức chủ quận Càng, Long (Vĩnh Bình), Năm 1932, ông làm chủ quận Ô Môn (Cần Thơ). Năm 1934, do bắt đồng ý kiến với viên chủ tỉnh nên ông đổi đi quận Phụng Hiệp.
Năm 1935, ông đổi về Sài Gòn đến năm 1936, được thăng Đốc Phủ Sứ. Nam 1937, ông xin được về hưu trí tuy nhiên chính phủ Pháp viện cớ không có người thay thể nên tiếp tục bổ nhiệm ông cho đến cuối tháng 6 năm 1941. Tháng 8 năm 1941, Hồ Biểu Chánh lại được cử làm Nghị viên Hội đồng Liên bang Đông Dương, sau đó ít ngày, ông dược cử làm Nghị viên Hội đồng thành phố Sài Gòn kiêm chức phó Đốc lý. Từ năm 1942 đến năm 1944, ông là Nghị viên Hội đồng quản trị Sải Gòn - Chợ Lớn đồng thời giữ cương vị giám đốc tờ báo Nam Kỳ (uẩn báo.
Tờ báo thực hiện được 85 số thì bị đình bản. 'Cũng trong những năm này, ông cho khôi phục lại Đại Việt xp chí dưới hình thức bộ mới, phát hành được 54 số thì cũng bị đình bản Năm 1946, bác sĩ Nguyễn Văn Thinh mời Hồ Biểu Chánh lãnh Bộ Nội 'Vụ hoặc Bộ Thông Tin trong Chính phủ Nam kỳ Cộng Hòa tự tị, nhưng vì tuổi cao sức yếu lại có bệnh nên ông chỉ tạm nhận làm cố vấn và Đồng lý văn phòng. Cuối năm 1946, chán ngán cuộc đời hoạn lộ, Hồ Biểu Chánh từ giã chính trường, thật sự bắt đầu cuộc sống hưu nhàn và dành trọn những năm. tháng còn lại cho sự nghiệp viết văn.
Hồ Biểu Chánh mắt ngày 04 tháng 11 năm 1958 (ngày 23 tháng 9 năm Mậu Tuất) tại tư thất Phú Nhuận, hưởng thọ. Linh cữu của ông được an táng tại xã Thông Tây Hội, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định Vi đã có một thời gian dai Biểu Chánh làm việc cho Chính phủ Pháp nên nhiều nhà phê bình đều “pl trách” cuộc đời chính trị của ông. Tuy nhiên dù làm việc cho Pháp nhưng ông luôn giữ cho mình một cuộc sống. thanh tao, lấy tấm lòng hiền đức để đối đãi với mọi người.
Ông quan niệm “tuy làm tay sai cho Pháp, nếu mình cứ lấy lòng siêng năng, ngay thẳng mà làm việc, đừng a dua, đừng bợ đỡ, phải thì ở, không phải thi di, nói oán dám giân, nói bay dam cai thì phận mình khỏi hỗ mà thiên hạ được nhờ” [dẫn theo 24, tr 18]. Ngày nay, bên cạnh những người phê phán cuộc đời hoạn lộ của Hồ Biểu Chánh ẫn có những người nhìn nhân nó một cách cởi mở hơn. Mặc dù có nhiều bàn luận *vào ra” về cuộc đời chính trị của Chánh nhưng xét trên phương điện văn học thì không ai có thể phủ nhận những đóng góp của ông cho văn học nước nhà. Sự nghiệp văn học Hồ Biểu Chánh đã làm phong phú sự nghiệp văn học của mình bằng cách thử sức trên nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ông đã để lại cho đời 64 tiểu thuyết, 12 tập truyện ngắn, 12 vở hài kịch và ca kịch, 5 tập tản văn và truyện. thơ, 3 vở cải lương, 4 vở hát bội, 8 tập ký, 28 tập khảo cứu và phê bình, Trong các lĩnh vực ấy, tiễu thuyết chính là thể loại mang đến thành công nhiều nhất cho ông. Có thể nói, Hồ Biểu Chánh cl h là một trong những tiểu thuyết gia tiêu biểu giai đoạn đầu thế kỷ XX. Ông có những đóng góp to lớn cho tiểu thuyết quốc ngữ giai đoạn đầu cả trên phương diện phỏng tác và hư cấu.
Những tác phẩm theo lỗi phỏng tác Phong tic là một trong những hướng đĩ ban đầu để nhà văn và cả độc giả có thể làm quen với một loại hình văn chương mới ~ văn xuôi quốc ngữ buổi đầu. Xuất phát từ ý tưởng, từ sự kiện, từ cốt truyện của một tác phẩm có trước, nhà văn tạo dựng nên một tác phẩm mới với tên gọi khác và đương. nhỉ ý nghĩa, giá trị, mục tiêu cũng sẽ khác. Phỏng tác chính là “dạng sáng tác dựa trên những, có sẵn (kế cả ý tưởng, cốt truyện.
cho đến tình. sự kiện); nghĩa là tác phẩm mới hình thành này có một phần “chất liệu” lấy từ tác phẩm tiền thân, gồm nhiều yếu tố, nhiều cắp độ khác nhau°{34, tr. 53] “Trong chặng đường đầu tiên của văn xuôi quốc ngữ, sự xuất hiện của tác phẩm theo lối phỏng tác tương đối nhiều. Hầu hết những tác phẩm này được.
chế tác lại trên cơ sở những đoản thiên, truyện ngụ ngôn, tiểu thuyết của. phương Tây; những thoại bản của Trung Quốc; hay những truyền thuyết của 'Việt Nam. Có thể kể đến một số nhà văn tiêu biểu cho dạng sáng tác này như: Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Trọng Thuật và đặc biệt là Hồ Biểu Chánh. Hồ Biểu Chánh chính là nhà văn tiêu biểu nhất trong hoạt động nghệ thuật phỏng tác.
Khác với Nguyễn Trọng Thuật, chủ yếu lấy cảm hứng từ các truyện truyền kỳ của Việt Nam, Hồ Biểu Chánh chọn các tác phẩm của văn học phương Tây làm cơ sở để sáng tao nên những tác phẩm mới. Trong số 64 tiểu thuyết thì đã có 12 tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh dựa theo tiểu thuyết phương Tây, gồm: Chia tau Kim Quy phòng theo Le Comte de Monte Crixto (Dumas) Cay đẳng mùi đời phỏng theo Sans Famille (Hector Malot) Thấy Thông ngôn phòng theo Les Amours Desteves (Theuriet) ae “Ngọn có gió đìa phòng theo Les Miserables (Victo Hugo) Chit phận linh định phòng theo En Famille (Hector Malot) Kế làm người chịu phông theo Les deux Gosses (Decourselle) Vĩ nghĩa vì tình phông theo Fanfan et Claudinet (Decourselle) Cha con nghĩa nặng phông theo Le Calvaire (Decourselle) G theo thai phòng theo Topaze (Marcel Pagnol) 10. Ong Cié phong theo Lartiste (Marcel Pagnol) 11. Béa hoa tan phỏng theo Le Rosaire (Marcel Pagnol) 12.
Người thất chí phòng theo Crimes et Châtiment (Dostoevski) ‘Tuy dựa trên những tác phẩm của phương Tây nhưng những tác phẩm phỏng tác của Hồ Biểu Chánh vẫn mang những nét riêng, độc đáo, gần gũi với người dân Nam Bộ vì vậy độc giả vẫn luôn yêu thích tác phẩm của ông. Để làm được điều này, Hồ Biểu Chánh đã dựa trên những cảm quan tích cực, nhân đạo của đạo lí Việt Nam từ đó ông đã thay đổi khá nhiều trong đề tai, cốt truyện, tính cách nhân vật. Chính Hỗ Biểu Chánh cũng đã nói rõ quan điểm phỏng tác của mình trong cuốn hồi kí Đởi của tồi vẻ văn nghệ: “Đọc tiểu thuyết hay tuồng Pháp văn hễ tôi cảm lấy chỗ tôi cảm đó mả làm. đề, rồi phỏng theo ít nhiều hoặc tách riêng ra mã sáng tác một tác phẩm hoàn toàn Việt Nam.
Tuy tôi nói phỏng theo song kỳ thiệt tôi lấy đại ý mã thôi, mà có khi tôi lật ngược tới đại ý, làm cho cốt truyện trái hẳn tâm lý khác xa với truyện Pháp”. Khảo sát một số tác phẩm phỏng tác của Hồ Biểu Chánh trong sự so. sánh, đối chiếu với những tác phẩm tiền thân, chúng tôi nhận thấy sự dày công của Ông trong quá trình Việt hóa những tác phẩm phương Tây, làm cho những tác phẩm ấy trở nên gằn gũi với công chúng Nam Bộ. Năm 1922, Hồ Biểu Chánh cho ra mắt độc giả tiều thuyết Chúa ràu Kim Quy.
Tác phẩm này được phỏng theo truyện Le Comte de Monte Cristo cia A. So sánh hai tác phẩm này, chúng tôi nhận thấy, Hồ Biểu Chánh vẫn giữ lại một số nhân vật trọng tâm như: ~ Edmonde Dantès ~ Lê Thủ Nghĩa 'emand ~ Tran Tan Than - Danglars ~ Lý Thiên Hùng ~ Mereédés ~ cô Tư Chuyên ~ Linh mục Maria ~ chú khách Mạc Tiễn “Tuy nhiên, nhà văn đã đơn giản hóa câu chuyện ly kỳ của A. Dumas để cho câu chuyện trở nên phù hợp với tâm lý, thị hiểu của người dân Nam Bộ.