mở đầu cho một năm mùa mảng bội thu, cầu cho mưa thuận gió hòa, mong mọi sự bình yên; LẺ cấp sắc của đân tộc Dao. Thường là vào dịp cuối năm người Dao tổ chức Lễ hội cấp sắc. Đây là lễ hội không thể thiểu dành cho người đàn ông, vì chỉ khi đã được cấp sắc người đàn. ông mới được coi là trưởng thành, được làm nghề cúng bái vả được giao tiếp với cõi âm.
Một phần cũng rất quan trọng đó là !Ê cấp pháp danh cho người thụ lễ. LẺ hội Gấu tảo của dan tộc Mông. Phần lễ với mục đích chúc phúc hoặc cầu mệnh; phần hội với mục đích vui chơi cộng đồng và thể hiện lòng. thành của gia chủ.
Các lễ hội thể hiện tín ngưỡng dân gian còn gắn với triết lý đa thân. Đặc biệt, khi đến với vùng Tây Bắc vào dịp mùa xuân, ta có địp hòa. mình vào không gian rực rỡ sắc màu của những phiên chợ vùng cao vô cùng độc đáo như: LỄ hội chợ tình Khâu Vai, chợ tình Sa Pa. Văn hóa trang phục đặc biệt cũng thường xuất hiện tại các phiên chợ làm nên một nét đẹp rực rỡ không lẫn vào đâu được.
Qua cách bài trí các hoa văn cũng như mẫu sắc trên trang phục ta có thể để đảng nhận biết người đến chơi chợ thuộc dân tộc nảo. trong các bin ling rải rác trên rẻo cao của núi rừng. trên những chiếc khăn piêu của đồng bảo dân tộc Thái ta bắt gặp sự tỉnh tế thì sự rực rỡ lại xuất hiện trên chiếc váy cạp Mường và bộ trang phục H,mông. Bên cạnh đó bộ trang phục Tây, Ning lại mang một vẻ đẹp giản dị, thuần khi Mỗi dân tộc đều có một cách bài trí cho trang phục của mình nhưng nhìn chung hoa văn trang trí trên những bộ trang phục thường rất sinh động, vui mắt và gam màu.
được sử dụng đều là "gam màu nóng”. Giữa bạt ngằn xanh thẩm của vùng núi cao và khí hậu vô cùng lạnh giá của vùng cực Bắc Tổ quốc, phải chăng con người cũng cần một sự thích nghỉ để tổn tại? Đến với các phiên chợ người miễn núi mới có cơ hội mở rộng quan hệ giao lưu, trao đổi những vật dụng cần thiết trong cuộc sống thường ngày. Người vùng cao xuống chợ không chỉ với mục đích chính là buôn bán, tìm kiếm lợi nhuận mà là để tìm đến với nhau chia sẻ, trao đổi những điều cần thiết trong cuộc sng. Tại các phiên chợ.
ta cũng nhận thấy rất rõ nét đẹp trong văn hóa ẩm thực của người miễn núi. Từ nguồn lương thực tự cung tự cắp người vùng cao đen đến với phiên chợ những món đặc sản mang đặc trưng của núi rừng rất độc đáo để lại ấn tượng. khó quên như: mèn mén, rượu ngô, thắng cổ, thịt rừng.Gọi là chợ nhưng thực tế ở đây gần như không có người mua và cũng không hề có người bán, mà ở đây người ta chỉ nhìn thấy toàn chuyện tình yêu, đây còn là nơi tìm về của những cặp đôi dang dở trong chuyện tỉnh duyên, là nơi gặp gỡ của những đôi trai gái yêu nhau và còn là nơi gặp gỡ của tất cả những người đã có gia đình và những người chưa có gia đình. Những đôi trai gái đến đây chỉ để trao gửi những lời yêu thương.
Người giả thì tìm bạn tình xưa, trẻ trung thì tìm kiếm bạn tình mới. Nha văn Đỗ Bích Thúy sinh ra và lớn lên tại vùngđắt có một tằm chiến lược quan trọng không chỉ về quốc phỏng an ninh mả còn vô cùng ấn tượng. với những nét đẹp văn hóa. Bên cạnh đó, chị may mắn có cả một thời gian dài quý báu lảm báo địa phương, ăn ngủ, tâm sự cùng nhiều vùng đồng bảo.
Đỗ Bích Thúy đã từng bộc bạch rất chân thành: "Tôi đã tắm trong không gian văn. hóa, đã buôn vui nhiều với mỗi số phận con người quê hương tôi, và đã có. một khoảng thời gian lùi xa những hiện thực ấy, để suy ngẫm, hồi tưởng và viết. Văn học, theo như tôi nghĩ, còn là chuyện của ký ức, trải nghiệm, của kỷ.
niệm với cách nhìn sâu rộng hơn. Khi ta nói câu chuyện của một bản làng người Mông, mọi điều đâu chỉ dừng lại ở đó. ĐẤy còn là câu chuyện của một quốc gia, một dân tộc". Sinh ra và lớn lên trên mánh đất có cảnh sắc thiên nhiên và bản sắc văn hóa vô cùng độc đáo và đường như theo tháng ngày cùng với tình yêu sẵn có, mọi thứ đã ngắm vào chị như một phần máu thịt.
Khi phải rời xa, chị cũng đã dành cho mình một khoảng lăng để ngẫm nghĩ, trăn trở. Chị nhận ra rằng cái nguồn riêng của con người và mảnh đất Hà. Giang có vai trò rất quan trọng trong cái dòng chung mang con người và bản sắc văn hóa Việt Nam. Với ý thức đúng đắn nhất quán như vậy kết hợp với sự.
cần mẫn trong một tâm hồn chăm chị nh tế lắng nghe những âm thanh vang vọng nhỏ nhất của tiếng đời và của cả tiếng lòng, Đỗ Bích Thúy đã khai thác. triệt để và sử dụng rất hiệu quả vốn sống dồi dào mà mình đã có về miền núi. “một cái gốc bền vững” để làm nên những trang viết vô cùng đặc sắc mang đậm hơi thở của vùng cao đá núi 'Và dẫu đã cách xa mảnh đất Hà Giang nhưng chị thật sự vẫn là “người con của núi” viết về “núi” trong lòng Hà Nội bằng những suy nghĩ mộc mạc, dung đị nhất. Đỗ Bích Thúy đã vén một bức màn bí mật đưa bạn đọc đến chiêm ngưỡng về cuộc sống con người trên cái nền của một vùng văn hóa.
it đặc sắc. Hơn ai hết, chị đã có nhiều cơ hội được tiếp cận, hiểu cặn kề về nét đẹp văn hóa bản địa và đồng cảm với những tâm hồn người hồn hậu, chân. al it, mộc mạc của xứ cao nguyên đá trên cái vốn đã rất vững bền. Từ những rung cảm chân thật, tận sâu trong đáy lòng đã hình thành trong chị một mối tình chung thủy, son sắt với quê hương.
Để rồi khi cằm bút Đỗ Bích Thúy. không ngừng trăn trở, day dứt và miệt mài lao động. Chị đã tìm tôi, khám phá ra mắt độc giả vùng đắt mà chị đã say, đã chọn lựa cho đời mình như một định mệnh. Chị thiết nghĩ, cần phải làm một điều gì đó để bảo tồn, phát huy.
những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp, thức dậy những khát vọng sống đích thực của con người, đóng góp một phần tâm sức để phục vụ cho sự phát triển của quê hương. Đỗ Bích Thúy bắt tay vào việc sáng tạo không ngừng để bắc một cây cầu nối hai vùng xuôi- ngược, đưa độc giả đến khám phá một viing văn hóa điệp trùng núi cao cây cỏ, hoa lá, hoang sơ và hùng vĩ. Hành trình sáng tác của Đỗ Bích Thúy. Đỗ Bích Thúy là thế hệ nhả văn trẻ khám phá và đưa bức tranh miễn núi rực rỡ sắc mâu bước vào văn học sau những năm 1975.
Đặc biệt hơn, chi lại chính là người con của núi viết về núi ở trong lòng phố phường Hà Nội, với một tắm lòng nhớ thương da diết và cái nhìn đa chiều sâu thẩm. Con người miền núi trong những trang viết của Đỗ Bích Thúy được đặt trong nhiều tình huồng, nhiều hoàn cảnh khác nhau đề thể hiện mình và đã đem đến một dầu ấn khá rõ nét, rất đẹp trong lồng độc giả cả nước. Năm 19 tuổi, Đỗ Bích Thúy đã bén duyên văn chương bằng truyện. ngắn đầu tay Chuỗi hạt cườm màu xám ¡n trên Báo Tiền Phong.
Truyện ngắn đầu tiên có vai trỏ như một cú hích lớn cho sự nghiệp viết văn của chị. Dường như ở cái đoạn mà tuổi đời còn rất trẻ khi ấy, chị vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra rằng, tận sâu thắm trong trái tim của mình từ lâu đã sẵn có một tình yêu văn học, một tình yêu thắm đẫm, dài và cồn cào tựa như dòng. chảy của một con suối, phải chăng nhờ vào điều này mà chúng ta đã có một nhà văn Đỗ Bích Thúy bây giờ. Và có thể nhìn nhận như chính đó là bước ngoặt vô cùng quan trọng, đã mở ra cho đời chỉ một hướng mới để trở thành nhà báo, nhà văn.
Đến nay, Đỗ Bích Thúy đã có trong tay số lượng tác phẩm tương đối nhiều. Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá xuất bản 2005, bao gồm rit nhiều truyện ngắn. Những câu chuyện nội dung xoay quanh vấn để về tình yêu, hôn nhân, quan hệ gia đình của những con người ngàn năm sống trên những bản làng, gắn đời minh với rừng núi quanh năm mù sương, trong đồ thấp thoáng nỗi niễm day dút của những người con đã rời bản làng ra di nhưng vẫn mang trong lòng nỗi nhớ về quê hương mình và còn có cả những suy tư, trăn trở của các thầy, các cô giáo từ miền xuôi lên bám trụ và từng ngày cống hiến cho sự phát triển của núi rừng. Dẫu tái hiện cuộc sống của những con người vùng cao là vấn để không có gì mới song tắt cả đã đến với người đọc qua cảm nhận hết sức tỉnh tế.
Mỗi câu chuyện là một thân phận người với những vui buồn trăn trở, hạnh phúc đớn đau riêng, Nhưng ở hẳu hết các tác phẩm đều nỗi lên trên hết là tình yêu và thân phận những người phụ nữ vùng cao. Người đàn bà miền núi trong văn viết về miền núi của Đỗ Bích. Thúy, từ rất nhiều năm về trước và có lẽ còn chưa biết đến tận bao giờ vẫn luôn là những người vất vả nhất. Họ luôn là những người đi ngủ sau cùng trong gia đình mã thức dậy sớm nhất, cặm cui lim lung cả ngày không ngơi nghỉ mà ăn uống lại đơn giản tiết kiệm, miếng ngon bao giờ cũng nhường.
nhịn cho chồng cho con, khuôn mặt sạm đi để tắm lưng mỗi ngày một còng. Họ gắn đời mình với tắm lưng còng và một cuộc đời đầy cực nhọc, chỉ biết lấy no đủ của gia đình làm niềm vui và nỗi khát khao của mỗi đứa con làm mục đích sống cho đến những ngày cuối cùng của đời mình. Ản sâu trong. từng chữ là trái tỉm chan chứa yêu thương của Đỗ Bích Thúy.
Ở đó ta nhân thấy rất rõ khát vọng nhân đạo hướng về những thân phận người, đặc biệt là người phụ nữ trên vùng đất cỏn nhiều lo âu ấy. Chị muốn gieo vào lòng ban đọc một câu hỏi: Những người đản ông sức đài vai rộng đang ở nơi đâu sao nỡ để những người đàn bà chân yếu tay mềm khốn khổ đến vậy? Và trong.