Chương 1 THANH QUE - CUQC BOI VA HANH TRINI SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT 1.1, THANH QUE - “NHA VAN MIEN CAT CHAY QUANG DA” 1. Từ học sử đến viết văn "Nhà văn Thanh Quế tên thật là Phan Thanh Qué sinh ngày 26/2/1945, tại xã An Chấn, huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên trong một gia đình trí thức yêu nước. Cha ông là một bắc sĩ ỗi tếng cả về Tây y lẫn Đôngy. Ông là con cả trong một gia đỉnh có năm anh em.
Cúc em ông sau này đều là những kỹ sử, bắc sĩ, nhà giáo, đều tham gia kháng chiến chống Mỹ, cỏ người đã hy sinh, cổ "người mang thương tật suốt đồi. “Tuổi thơ ông gắn bỏ với iếng sông vỗ 4 im từ lãng bién Ma Liên vọng về Phú Thạnh những đêm biển động, với con bầu 'Ngòi nước lợ đầy bông súng, tôm cá mà ông thường cùng bạn bè rủ nhau di tắm, đi câu; với những gắc bằng gốc đa Chợ Xồm và những động cát chảy dài về phía biển nơi ông vẫn thường xuyên cùng chúng bạn nghịch đùa”. “Thanh Quế được vào học ở các trường học sinh miễn Nam nội trú. Tại đây, ông say mê đọc sách văn học và tập làm thơ.
Thơ của ông đã được in & các sách báo khi ông còn là một học sinh phổ thông. Năm 1963, ông vào học Khoa Sử trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Tuy học Sử nhưng ông vẫn miệt mài đọc sách văn học và sắng tác được một số bài thơ in trên các sách báo ở Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông trở lại miền Nam Việt Nam làm.
phóng viên mặt trận cho tờ tạp chí Văn nghệ giải phóng Trung Trung bộ, vừa biên tập, vừa viết văn, làm thơ, vừa viết báo. Ông đã sống với bộ đội, du kích, cán bộ và những bà mẹ bám trên el trường miễn Trung từ Quảng Nam - Đà Nẵng đến Khánh Hòa. Từ đây, ông đã sáng tác được những bài thơ hay. mà sau này được đưa vào các tuyển tập lớn như Trước nhà em sông Vu Gia, Nhớ Người, Thăm chồng (được dich ra tiéng Pháp) và các truyện, ký: Những em bé chăn bò Nhạn Phú, Mùa mưa, Những người du kích Gò Nổi.
Sau khi in Nam Vigt Nam được hoàn toàn giải phóng, ông tham gia trại sáng tác văn học Quân khu V. Chỉ trong ba năm, ông viết và cho in hàng. loạt tác phẩm: Tinh yếu dhớn từ đất (thơ), Chuyến sẽ một mg dayát (truyện ngắn), ‘Thung ling Đắc tia (truyện ngắn). Năm 1980, ông được điều ra Hà Nội làm biên tập viên văn xì tạp chí Văn nghệ Quân đội.
Tại đây, ban ngày túi bụi với công tác biên tập, ban đêm ông sáng tác và sửa chữa tác phẩm của mình để 66 duge tiểu thuyết Cái Cháy và hằng loạt truyện ngắn và thơ. Năm 1983, ông giải ngũ trở về Quảng Nam - Đà Nẵng nơi ông đã từng sống và chiến đấu trong những năm chiến tranh, làm phó Tổng biên tập rồi tổng biên tập Tập chỉ Đắt Quảng của Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam Đà Nẵng. Bản rộn bao nhiêu việc nhưng ông đã có trong đời viết văn hơn 30 tập thơ, truyện, tiểu thuyết, bút kí ~ chân dung văn học được xuất bản, một thành quả không, thể nói là nhỏ so với một đời người ~ một đời văn. ‘Thanh Qué sáng tác đều đặn, hầu như năm nào ông cũng xuất bản được một quyển sách, có khi là văn, có khi là thơ, có khi là tác phẩm viết cho các em, có khi là tác phẩm viết cho người lớn.
Nhưng dù viết thể loại nào, viết cho ai thì đề tải chiến tranh cách mạng vẫn là đề tải chính của ông. Những nhân vật chính trong tác phẩm ông viết là những con người bình thường, vô danh, khuất mình lẫn trong bảng triệu người khác. Họ chính là nhân đân, nhân dân ngàn đời làm nên những kỳ tích lớn lao cho thế giới này. Đến nay ‘ng đã có 13 tập thơ và 31 tập bao gồm tiéu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn.
Dang chit thuyết Cứ chó, tập thơ Những thing mam vay micmy 11 erayén mein và tập hồi ký chân dung văn nghệ vẻ Aam. Cá cy (in năm 1983) là cuốn tiểu thuyết sự đũng cảm và mưu trí của các em nhỏ trong một đội du kích thiểu niễn ở vùng ven Đà Nẵng, Tuy viết về thiểu nhỉ nhưng cuỗn sách đã phản ánh được cuộc chiến tranh nhân dân của đồng bảo miền Nam Việt Nam. trong cuộc kháng chiến chống Mỹ. Cudn sich được giải cao của Hội Nhà văn 'Việt Nam và Trung ương đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh vào năm.
Tập thơ hing sing mam vay magn (in năm 1993) là một tuyển thơ của Thanh Quê viết về chiến tranh, về quê hương, gia đình, về những suy ngẫm. về cuộc đồi nhân tình thể thái. Nhà thơ như nhắc nhở mọi người: Cuộc đời con người ngắn lắm, chúng ta phải ễt yêu thương nhau, bao dung độ lượng, nhau vì ai rồi cũng sẽ trở về với cát bụi. Tập thơ đã bắt đầu đạt đến độ sâu bing cô đọng của một người đã cõ nhiều trải nghiệm trong cuộc đời.
Tập thơ đã được giải thưởng của Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội van học nghệ thuật Việt Nam năm 1994, Hẳu như ra đời cùng một lúc với tập thơ này là tập 11 ranén gin (in năm 1994) gm những truyện viễt về chiến tranh của Thanh Qué. Nói như Ngô Vĩnh Bình một nhà phê bình văn học của Việt Nam thì dù. hiến tranh nhưng dường như ở đây rất thưa tiếng sing. Đó không, phải là những trang "tả trận", đâm đặc hơi thở chiến trường với bom rơi đạn lạc, khói lửa tơi bởi nhưng đã lột tả được tỉnh thần quật khởi, ý chí qu & chiến quyết thắng cũng như những hy sinh lớn lao và cao cả của nhân dân “Tập truyện đã được tăng là tập sách hay trong năm 1994 của Nhà xuất bản Đà 'Nẵng.
Tập truyện Bếp lứa làng Tả Băng, được Nhà xuất bản Quân đội Nhân cđân xuất bản năm 1998 và được tặng phim của Bộ Quốc phỏng năm 1999, nhân dịp kỷ niệm 45 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một số truyện ngắn trong tập này trước đó đã được dịch sang tiếng Nga, Anh, Pháp. như các truyện Di Úc đẻ mẹ vá hú, Mai. Truyện Hi người ọn đã được Tạ Xuyên, một nhà biên kịch và đạo diễn có tiếng chuyến sang kịch nói vi tên Thời gian hông im lũng đã diễn trên 300 lần và được giải thưởng của Bộ Quốc phòng "Việt Nam.
"Vào độ tudi 50 "Tri thiên mệnh", Thanh Quế hay suy nghĩ nhiều về quá khứ, Trong cuốn hỏi ký chân dung văn nghệ r¿ Nam (in năm 1996), ông viết về bản thân mình và đồng đội cũng thể hệ mình tham gia vào cuộc chiến tranh giải phóng miễn Nam. Như một nhà thơ cùng thể hệ ông nhận xét. “Đó là những trang hồi ức cảm động về thời đánh Mỹ không dễ gì có được, là nền. hương dâng lên những người đã khuất và được lan tỏa trong những trái tìm.
Thành tựu sáng tác và giải thưởng văn học Làm thơ từ khi còn là học sinh lớp 5 trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Năm 1962 đăng thơ ở Báo Văn học (nay là Văn nghệ) với 2 bài Bém di trong và Gửi ngoại yếu. Năm 1963 vào đại học Tổng hợp sử, vẫn tiếp tục làm thơ. Sau khi tốt nghiệp Đại học đã vào chiến trường, công tác ở Hội văn nghệ giả phóng Trung Trung Bộ, thời kỉ này này viết chuyên nghiệp hơn, có thơ và kí, truyện (viết từ 1972) đăng trên tap chí Văn nghệ giái phóng Trung.
Trang Bộ và các báo cáo Trung ương như lăn nghệ Quân đội, Văn nghệ. Sau giải phóng ở trại sáng tác văn học Quân khu V. Năm 1980 công tác ở Tạp chí ăn nghệ quân đi và viết tiêu thuyết Cát cháy, được giải thường Hội Nhà 'Văn Việt Nam và Trung Ương Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh năm 1981. Nim 1983 trở về công tác ở Hội Văn Nghệ Quảng Nam - Đà "Nẵng (sau năm 1997 là Hội Văn Nghệ Đà Nẵng).
Đến nay đã xuất bản trên 40 tác phẩm bao gồm: thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, chân dung văn nghệ, bút kí và hãng trăm bài báo. “Tác phẩm chính đã xuất bản: Về thơ: Tinh yêu nhận từ đắt (cùng 3 ác giả khác, 1971); Trong mỗi ‘nga đời tôi (1986), Giải bày (988); Những thắng năm vay mượn (1993); Mé biến đời tôi (2000); Người linh đi đầu (rường ca - 2003); Một gạch và chuyển động (3006); Tha Thanh Qué (2008), ‘VE vain: Chuyén từ một tiểu thuyết ( tập truyện ngắn — 1978); Cát cháy. Giải thưởng văn h - Giải nhì (không có giải nhất) cho tiểu thuyết Cát cháy của Hội Nhà ‘Van Vigt Nam và Trung ương Đoàn thanh iên Công Sản Hồ Chí Minh năm 1981 - Giải nhĩ cho tập thơ Những tháng năm vay mượn của Ủy ban toàn cquốc Liên Hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 1994. - Tăng thưởng cho tập truyện Bép lea lang Ta Bang của Bộ Quốc phòng năm 2000.
~ Tăng thưởng loại A hai lẫn ( 1975 ~ 1985) và (1985 ~ 1995) của Ủy ban Nhân dân tỉnh Quảng Nam ~ Da Nẵng cho toàn bộ tác phẩm, ~ Giải nhĩ (không có giải nhất) cho Trường ca Người đi linh đầu của Ủy "ban Nhân dân thành phổ Ba Nẵng (1997 - 2005) ~ Giải A cho tập thơ Một gạch và chuyển động của Liên Hiệp Văn học nghệ thuật thành phố Đả Nẵng năm 2007. ~ Giải B cho tác phẩm Một gạch và chuyển động Giải thưởng Văn học nghệ thuật của UBND thành phố Đà Nẵng lần II (2005 ~ 2010). ~ Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật năm 2012. QUAN NIEM VE VAN CHUONG 1.
Quan niệm về thơ Bước ra từ cuộc chiến tranh khốc liệt giải phóng dân tộc, trong bai tho Noi với một người anh đễ tường nhớ nhà thơ Lê Anh Xuân, Thanh Qué viết Tôi thấy những tháng năm đồi mình còn lại Là những thang năm vay mượn của các anh Những người đã khuất. 'Nh thơ đã viết lên những dông xúc động và cũng mang đầy nỗi trăn trở của cả những thắng năm còn lại của mình, đó là những thing nim vay “mượn của các anh, qua những câu thơ trên ta càng hiểu hơn những quan niệm sắng tác về thơ của ông. Nói như Nguyễn Nhã Tiên: "Sức sống của bản (hân thơ Thanh Quế là đòi hỏi ở sự tiếp nhận, không hé có sự cảm tính nào mà phải tư duy cùng tác giả, trăn trở cùng tác giả để xác định đúng những thấm giá của thơ, gợi mở ra những nguồn mỹ cảm không hồi kết thúc”.