CHƯƠNG 1 BUI TY LUC, TRAN TRUNG SANG VA HANH TRINH SANG TAC CHO THIEU NHI 1. CUỘC ĐỜI VÀ CÁC TAC PHAM VIET CHO THIEU NHI CUA BULTY LUC VA TRAN TRUNG SANG 1. Sơ lược về tình hình văn học sáng tác cho thiếu nhi ở Đà Nẵng. Khi nhìn nhận, đánh giá về tình hình văn học ở thành phố Đà Nẵng hiện nay, nhà văn Thanh Quế đã khẳng định rằng: “Văn học ở thành phố mới nhìn có vẻ trằm nhưng cũng như một dòng nước ngầm có những bước phát triển mà nếu như không nhìn kĩ sẽ khó nhận ra” [28, tr.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, tình hình văn học sáng tic cho thi nhỉ ở Đà Nẵng cũng đang ngày càng được nhiều người quan tâm. Có thể nhận thấy rằng, văn học t về thiếu nhị, viết cho thiếu nhỉ là một đề tài khó viết, khó hay và khó có độc giả. Thế nhưng, lĩnh vực này cũng. đã thu hút sự tham gia của các nhà văn, nhà thơ tại thành phố Đà Nẵng.
Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, một số nhà văn, nhà thơ của Quảng Nam ~ Da Nẵng như Thu Bồn, Phan Tứ, Chu Cấm Phong, Bùi Minh Quốc, Thanh Quẻ. Những sáng tác trong thời kì này chủ yếu nêu lên những tắm gương chiến đầu. anh ding của các em nhỏ trong kháng chiến. Sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, những cây bút viết cho thiếu nhỉ ở Quảng Nam - Đà Nẵng bắt đầu.
có sự phát triển cả về số lượng và chất lượng. Bên cạnh những cái tên quen thuộc trước đó, bạn đọc địa phương còn biết đến những nhà văn, nhà thơ mới như Ngân Vịnh, Đông Trình, Trần Khắc Tám, Trần Trung Sáng. Từ khi Đà Nẵng tách khỏi Quảng Nam — Da Nẵng để trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, ngoài những cây bút kể trên, mảng đề tài viết cho thiếu nhi còn xuất hiện một số cây bút mới đây tiềm lực như Bùi Tự Lực, Quế Hương, Trằn Ky Tring Bên cạnh đó, qua các trại sáng tác văn nghệ thiếu nhỉ vào địp hè mỗi năm được Liên hiệp các hội văn học nghệ thuật Đà Nẵng phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức, chúng ta vui mừng vì đã có nhiều tác phẩm hay. do chính những cây bút nhí của thành phố sáng tác.
Về thể loại văn xuôi có Nguyễn Thị Cung Mi, Hồ Như Mai, Nguyễn Vĩnh Phong,. VỀ thơ có Phan Tuy An, Đỗ Thị Quỳnh Như, Đàm Thủy Duong, Tran Hoang Châu. Thật đáng mừng vì các em đã tham gia đóng góp những tác phẩm hay, giảu giá trị, làm cho phong trào sáng tác văn học cho thiểu nhi ở Đà Nẵng thêm đa dạng. và phong phú.
Nhìn lại chặng đường phát triển của văn học viết cho thiếu nhỉ ở Đà Nẵng trong những năm qua, chúng ta nhận thấy rằng mảnh đất màu mỡ này đang ngày cảng thu hút sự quan tâm, chú ý của nhiều nhà văn, nhà thơ ở địa phương. Chúng ta c6 thé tin ring mảng sáng tác văn học thiếu nhỉ của thành. phố sẽ dẫn khẳng định được chỗ đứng xứng tầm cùng văn học khu vực và cả. Bài Tự Lực ~ người di tìm chính mình trên trang viết cho tuổi tho & Cuộc đời So với các bạn văn cùng thời ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Bủi Tự Lực 'bước vào làng văn hơi muộn.
Ông sinh vào năm Giáp ngọ (1954) tại làng Việt Sơn, xã Bình Trị, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. Bai Tự Lực sinh ra trong một gia đình có truyền thống Cách mạng , bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, các cô, bác là liệt sĩ. Thân sinh của Bai Tự Lực là ông Bùi Ngọc Tẩy, sớm được giác ngộ cách mạng, từng trực tiếp tham gia cướp chính quyền từ Cách mạng Tháng 8 năm 1945, rồi đi theo kháng chiến. Sau ngày hòa bình lập lại (1954), ông là cán bộ thoát ly, không đi tập kết mà ở lại miễn Nam hoạt động bí mật trong lòng địch.
Bị bọn mật vụ chỉ điểm, cơ sở nội tuyến vỡ, ông bị địch bắt lưu đày trong các nhà lao của chế độ độc tài Mỹ-Diệm; mãi đến cuỗi năm 1963 mới thoát tù và tiếp tục hoạt động. Tuổi thơ Bùi Tự Lực thiếu thốn tình thương yêu của gia đình, gần như gia cảnh một cậu bé mỗ côi. Cha đi hoạt động Cách mạng, mẹ lại rơi vào một nghịch cảnh éo le, buộc phải “bước sang ngang” để lại Bùi Tự Lực sống với bà nội. Bả nội của Bùi Tự Lực - bà mẹ Việt Nam anh hùng Lê Thị Đỉnh - một ba ldo tat nguyễn, đơn chiếc và là một cơ sở cách mạng ở vùng tạm chiếm; lại phải cưu mang chăm ẫm một đứa cháu cút côi mới vừa 4 tuổi.
Khi còn trẻ bà nội lại là một người rất giỏi hát hò khoan, đối đáp, hát giao duyên, thuộc nằm. lang những toằng tích cỗ như Lục Vân Tiên, Thoại Khanh ~ Châu Tuần. Bùi "Tự Lực lớn dẫn lên theo năm tháng cùng với những lời ru, những bài ca dao, những tuồng tích cố của nội. Nhà văn cũng đã từng tâm sự rằng: “ Chính những lời ru mênh mang giữa đất trời bằng truyền thuyết và những câu chuyện cổ tích “ngày xửa ngày xưa” nội thường hay kể, như một tiền định cho một tâm hồn thơ văn sau này của Bùi Tự Lực”.
Còn có một điều khá đặc biệt cũng ảnh hưởng đến tính cách và tâm hỗn thơ văn của Bùi Tự Lực ngay từ khi ông còn nằm nôi, đó là bài thơ /Ru con mã chính cha của Ong là tác giả đã sáng tác và gửi lại khi Bùi Tự Lực vừa mới cắt tiếng khóc chào đời: Nin đi dừng khóc con ơi Lắng tai nghe mẹ truyền lời ba ru Chúc con vào quãng đầu Thu Quả năm Giáp Ngọ súng diệt thù ngừng tay Tình cha con chưa đặng mấy ngày. Cách xa hai ng vì tay bạo tàn Bài thơ này đã được mẹ và bà nội hát ru Bai Tự Lực ngay từ thuở mới lot ling, sau đó được các me, các chị trong làng, xã truyền miệng nhau làm lời hát ru con. Khi lớn lên, bài thơ lục bát này đã thắm vào trong tâm hồn của người con trai đất Quảng một cách tự nhiên như sữa mẹ. Chính những lời ru ngọt ngào này còn góp phần hình thành và nuôi dưỡng trong ý thức của ông ngay từ nhỏ về lòng yêu nước, căm thù giặc, ý chí quyết tâm đánh giặc cứu.
Năm 12 tuổi, Bùi Tự Lực di theo Cách mạng làm giao liên. Có thể nói rằng đây là khoảng thời gian đầy gian khổ và hi sinh của tuổi thiểu thời, tuổi thơ bị nhắn chìm trong bom đạn chiến tranh và đói khát, thể nhưng cũng lại là thời khắc cháy rực lửa anh hùng Cách mạng với lòng yêu quê hương, đất nước còn sơ khai của một cậu bé thôn quê con nhà nghèo. Sau ba năm làm giao liên tại Ban Giao bưu huyện Thăng Bình, tỉnh Quang Nam, Bai Tự Lực được Cách mạng chuyển ra miền Bắc chữa bệnh và học tập tại c Trường học sinh miền Nam trên đất Bắc. Sau đó, ông học Cao.
đẳng Sư phạm, chuyên ngành Văn-Sử tại Quảng Ninh. Nam 197§, Bùi Tự Lực tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, trở về quê dạy. hoe, sau dé làm Hiệu trưởng Trường Phổ thông cơ sở (liên cấp 1 - 2) ở một vùng bán sơn địa thuộc huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam. 'Cứ ngỡ cuộc đời mình sẽ gắn liền với phấn trắng, bảng đen, nhưng Bùi Tự Lực thuộc diện là “Hạt Giống Đỡ” va được nhìn nhận là cán bộ lãnh đạo nên được điều chuyển sang làm Phó Văn phòng Ủy ban nhân dân huyện Thăng Bình.
Để đào tạo tiếp, tổ chức tiến cử ông di hoe Đại học Chính trị, chuyên ngành Triết học, tại Trường Tuyên huắn Trung wong 1 Hà Nội (Học viện Báo chí- Tuyên truyền ngày nay), từ năm 1983 đến 1987 Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Triết học, Bùi Tự Lực trở về quê hương công tác và trúng cử Huyện ủy viên, giữ chức vụ Chánh văn phòng Huyện ủy huyện Thăng Bình, tình Quảng Nam. Trong hoàn cảnh lúc bẩy giờ, một thanh niên mới ngoài 30 tuổi, lại được đảo tạo chính quy, bai bản cả về trình độ sư phạm và lý luận chính trị như Bùi Tự Lực được xem là tắt hiểm. Hơn nữa, gia đình của ông vốn có truyền thống Cách mạng. Cha ông lúc ấy là một cán bộ.
cao cấp có uy tín của huyện, thuộc diện Lão thành Cách mạng; bà nội là bà mẹ Việt Nam anh hùng, bản thân lại từng tham gia Cách mạng từ nhỏ; đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của huyện lúc bấy giờ nhiều người thuộc lớp cha chú, anh chị và cũng từng là đồng chí của ông ở chiến trường đánh Mĩ, nên ai cũng, tin chắc rằng tương lai của Bùi Tự Lực sẽ còn tiến xa hơn nữa. Bước chân vào con vị trí Chánh Văn phòng Huyện uỷ chưa được bao lâu, Bùi Tự Lực đã cảm nhận rằng hình như có một điều gì đó không ồn luôn khiến ông phải bận tâm suy nghĩ về hướng đi của đời mình. Nhất là tư chất nghệ sĩ cứ như vận vào người rồi bộc lộ ra phong cách, ông tự nhận ra mẫu. người như ông không thuộc về ih vực chính trị.
Rồi hình ảnh người cha sau cơn tai biến mạch máu não “thập tử nhất sinh” khi mới 53 tuổi, di chứng để lại là liệt nửa người, nằm bắt động và cắm khẩu. Không những vậy, điều làm. sông phải trăn trở, bận lòng là khi nhìn cảnh vợ một mình nuôi con thơ với đồng lương giáo viên thời bao cắp ở thành phố Đà Nẵng. Thể rồi, chỉ một bước rẻ ngang như một định mệnh! Chính bước rẽ ấy đã tạo nên bước ngoặt xoay chuyển số phận của một con người.
Bủi Tự Lực cúi đầu tạ lỗi với người cha mái tóc bạc phơ ngồi bat động trên xe lăn, bỏ lại tắt cả những dự báo một tương lai xán lạn sẽ nối nghiệp làm chính trị của cha ở “chốn quan trường” để ra Đà Nẵng đoàn tụ với vợ con. Ngày ấy, một người thanh niên như Bùi Tự Lực mà có một bước quyết định như thể là phải nhiều. suy tư, trăn trở và buồn lắm; coi như một bước lỡ vận nửa đời người! Ông đã từng tâm sự Dứt áo ra đi còn mỗi cái tên Lối người chông chênh đầu trần chân đắt Đồng lương bọt bèo mấy phần rơi rớt “Đứt gánh giữa đường sống chết ai hay!” (ự bạch) Xin thuyên chuyển công tác không được, Bùi Tự Lực xin nghỉ hưởng 70% lương, rồi nghỉ không lương và chờ để tìm một công việc mới.