Tổng quan nghiên cứu

Văn học thiếu nhi đóng vai trò nền tảng trong việc nuôi dưỡng tâm hồn và hoàn thiện nhân cách của thế hệ trẻ. Theo các khảo sát lịch sử văn học, Nhà xuất bản Kim Đồng từng tuyển chọn tác phẩm của 55 tác giả tiêu biểu trong hơn 50 năm hình thành và phát triển nền văn học thiếu nhi Việt Nam, trong đó ghi nhận sự đóng góp của các cây bút xuất sắc miền Trung. Tác phẩm tiêu biểu của tác giả Bùi Tự Lực đã được in tái bản 6 lần với số lượng phát hành đạt gần 30.000 bản, minh chứng cho sức sống bền bỉ của mảng đề tài này trong lòng bạn đọc nhỏ tuổi. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chuyên sâu và có hệ thống về truyện thiếu nhi tại khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng vẫn còn khá khiêm tốn, chủ yếu dừng lại ở các bài phê bình đơn lẻ trên báo chí và tạp chí văn nghệ địa phương.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là cần có một công trình học thuật quy chuẩn nhằm đánh giá toàn diện giá trị nội dung và hình thức nghệ thuật của truyện thiếu nhi xứ Quảng sau mốc đổi mới năm 1986. Mục tiêu cụ thể của luận văn là khảo sát hệ thống hình tượng nhân vật, bức tranh hiện thực đời sống và các phương thức biểu hiện nghệ thuật trong sáng tác của hai cây bút tiêu biểu: Bùi Tự Lực và Trần Trung Sáng. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 6 tập truyện đặc sắc được xuất bản trong giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2005 tại không gian văn học Đà Nẵng. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp nguồn tư liệu khoa học chuẩn mực nhằm phục vụ 100% các tiết dạy học chương trình Ngữ văn địa phương tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông, đồng thời nâng cao năng lực nghiên cứu cho đội ngũ giáo viên trên địa bàn thành phố.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết thi pháp học hiện đại kết hợp với lý thuyết tiếp nhận văn học để giải mã cấu trúc tác phẩm dành cho độc giả lứa tuổi từ 6 đến 15 tuổi. Mô hình nghiên cứu đặt trọng tâm vào mối quan hệ giữa nhà văn, văn bản nghệ thuật và đối tượng bạn đọc nhỏ tuổi, đặc biệt trong bối cảnh văn học đổi mới từ sau năm 1986 đến nay.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm cốt lõi bao gồm:

Thứ nhất, quan niệm nghệ thuật về con người với sự phân hóa thành nhân vật trẻ em thời chiến và trẻ em thời bình.

Thứ hai, nhân vật đồng thoại dựa trên phương thức nhân hóa thế giới loài vật và đồ vật vô tri.

Thứ ba, lăng kính trẻ thơ như một điểm nhìn trần thuật đặc thù giúp khúc xạ hiện thực một cách hồn nhiên và trong sáng.

Thứ tư, ngôn từ nghệ thuật giàu chất thơ và tính đối thoại.

Thứ năm, giọng điệu trần thuật đa thanh hướng đến việc giáo dục thẩm mỹ theo các giá trị Chân - Thiện - Mỹ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được xây dựng từ hệ thống văn bản gốc gồm 6 tập truyện tiêu biểu (3 tác phẩm của Bùi Tự Lực và 3 tác phẩm của Trần Trung Sáng), bao quát hơn 30 tác phẩm truyện ngắn và truyện vừa cùng gần 50 tài liệu tham khảo chuyên ngành. Cỡ mẫu nghiên cứu được thiết lập qua phương pháp chọn mẫu chủ đích, tập trung vào những tác phẩm đoạt các giải thưởng văn học lớn cấp quốc gia và cấp thành phố trong giai đoạn 1988-2005. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao nhất về phong cách nghệ thuật của hai tác giả.

Quy trình phân tích kết hợp chặt chẽ 3 phương pháp nghiên cứu chính: phương pháp phân tích - tổng hợp nhằm bóc tách giá trị tư tưởng và thẩm mỹ của từng thiên truyện; phương pháp so sánh đối chiếu nhằm tìm ra nét tương đồng và phong cách cá tính sáng tạo riêng biệt giữa hai nhà văn; phương pháp thống kê - phân loại nhằm lượng hóa các yếu tố thi pháp như tỷ lệ xuất hiện của các kiểu nhân vật và các dạng thức giọng điệu. Toàn bộ quá trình nghiên cứu được triển khai thực hiện trong chu kỳ 24 tháng và nghiệm thu hoàn tất vào năm 2013 tại Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ thuộc Đại học Đà Nẵng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát hệ thống tác phẩm đem lại 4 phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, thế giới nhân vật trẻ em đóng vai trò hạt nhân và phân bổ cân bằng qua hai chiều kích lịch sử. Trong các tác phẩm viết về thời chiến, nhân vật trẻ em như chú bé giao liên cu Lẹt chiếm trọn dung lượng với nét tính cách kiên cường, mưu trí và lòng căm thù giặc sâu sắc. Trong khi đó, nhân vật trẻ em thời bình như cu Bon hay bé Ban Mai lại hiện lên với tâm hồn tinh nghịch, tò mò khám phá thế giới xung quanh.

Thứ hai, hình tượng người phụ nữ xuất hiện trong hơn 60% tác phẩm của Bùi Tự Lực, tạo nên tượng đài bất tử về đức hy sinh. Hình ảnh người bà tần tảo vừa là cơ sở cách mạng nuôi giấu cán bộ, vừa là điểm tựa tinh thần vững chắc nuôi dưỡng nhân cách trẻ thơ qua những câu ca dao và làn điệu dân ca cổ truyền.

Thứ ba, thế giới đồng thoại chiếm 100% tỷ trọng trong các tập truyện ngắn đầu tay của Trần Trung Sáng. Thế giới loài vật và đồ vật được nhân hóa sinh động chiếm khoảng 40% hệ thống nhân vật của tác giả, mang lại bài học sâu sắc về sự sẻ chia, tình bạn bè và tinh thần chống kỳ thị màu da, sắc tộc.

Thứ tư, hệ thống giọng điệu trần thuật được xây dựng phong phú với 4 sắc thái chủ đạo: giọng hồn nhiên trong sáng chiếm khoảng 45%, giọng thủ thỉ tâm tình chiếm khoảng 25%, giọng khôi hài hóm hỉnh chiếm khoảng 15% và giọng ngợi ca thành kính chiếm khoảng 15% dung lượng văn bản khảo sát.

Thảo luận kết quả

Các kết quả thống kê và phân loại có thể được trực quan hóa thông qua một bảng ma trận đối sánh phong cách nghệ thuật giữa hai tác giả, kết hợp biểu đồ hình quạt phản ánh cơ cấu các nhóm nhân vật (50% nhân vật trẻ em, 25% nhân vật đồng thoại và 25% nhân vật người lớn).

Sự tương đồng giữa Bùi Tự Lực và Trần Trung Sáng bắt nguồn từ quan niệm nghệ thuật nghiêm túc: viết cho thiếu nhi là hành trình chưng cất tâm hồn để đạt đến độ trong trẻo, không áp đặt lăng kính chủ quan của người lớn. Điểm khác biệt rõ rệt nằm ở khuynh hướng thẩm mỹ: Bùi Tự Lực nghiêng về cảm hứng hiện thực tự truyện, đậm chất ký ức chiến tranh vùng nông thôn cát trắng Thăng Bình; trong khi Trần Trung Sáng thiên về cảm hứng lãng mạn, mang phong vị cổ tích ngụ ngôn hiện đại gắn với không gian phố cổ Hội An và đô thị mới Đà Nẵng. So sánh với các nghiên cứu văn học thiếu nhi thời kỳ đổi mới trên phạm vi cả nước, các tác phẩm của hai tác giả này đã góp phần khẳng định bản sắc riêng biệt của văn học thiếu nhi xứ Quảng trong dòng chảy chung của nền văn học dân tộc.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp và khuyến nghị hành động cụ thể:

Thứ nhất, tích hợp 100% các trích đoạn truyện ngắn đặc sắc của Bùi Tự Lực và Trần Trung Sáng vào chương trình giảng dạy phần Văn học địa phương tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trước năm 2024. Đơn vị chủ trì thực hiện là Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng tổ chuyên môn Ngữ văn các trường.

Thứ hai, tổ chức tái bản và số hóa tối thiểu 5.000 bản in tuyển tập truyện thiếu nhi của hai tác giả để trang bị cho hệ thống thư viện trường học và thư viện công cộng trong giai đoạn 2024 - 2026. Chủ thể thực hiện là Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật thành phố Đà Nẵng phối hợp cùng Nhà xuất bản Kim Đồng và Nhà xuất bản Đà Nẵng.

Thứ ba, triển khai định kỳ 2 đợt tập huấn chuyên môn mỗi năm cho hơn 300 giáo viên Ngữ văn về phương pháp tiếp cận và khai thác tác phẩm thiếu nhi địa phương, giúp học sinh phát triển năng lực thẩm mỹ và tình yêu quê hương đất nước.

Thứ tư, duy trì và nâng cao chất lượng các trại sáng tác văn học thiếu nhi thường niên vào dịp hè, hướng tới mục tiêu thu hút trên 100 cây bút thanh thiếu niên tham gia mỗi năm nhằm phát hiện và bồi dưỡng lực lượng sáng tác kế cận cho nền văn học thành phố.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Nhóm thứ nhất: Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và Lý luận văn học. Tài liệu cung cấp khung lý thuyết thi pháp học thể loại và hệ thống dẫn chứng cụ thể để phục vụ việc nghiên cứu, giảng dạy học phần văn học thiếu nhi và văn học địa phương.

Nhóm thứ hai: Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học cơ sở và trung học phổ thông trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam. Luận văn là nguồn tham khảo trực tiếp giúp thầy cô xây dựng kế hoạch bài dạy và biên soạn tài liệu giáo dục địa phương theo định hướng phát triển phẩm chất người học.

Nhóm thứ ba: Các nhà văn, nhà thơ và tác giả trẻ đang theo đuổi mảng sáng tác cho thiếu nhi. Những phân tích về tâm lý trẻ thơ, nghệ thuật trần thuật và ngôn từ đối thoại trong luận văn mang lại nhiều bài học kinh nghiệm bổ ích cho quá trình lao động sáng tạo.

Nhóm thứ tư: Các nhà nghiên cứu văn hóa vùng miền và cán bộ quản lý xuất bản. Luận văn cung cấp luận cứ khoa học để hoạch định chính sách phát triển văn hóa đọc và định hướng xuất bản các tủ sách thiếu nhi mang đậm bản sắc quê hương.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn khảo sát cụ thể những tác phẩm nào của nhà văn Bùi Tự Lực?

Nghiên cứu tiến hành khảo sát toàn diện 3 tác phẩm tiêu biểu gồm 2 truyện vừa và 1 tập truyện ngắn: truyện vừa Nội tôi (Nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản năm 2001, đoạt giải Nhì cuộc vận động sáng tác 1999-2000), truyện vừa Trên nẻo đường giao liên (Nhà xuất bản Kim Đồng, 2003, giải A năm 2003) và tập truyện ngắn Cái ống phóc và trái banh chuối (Nhà xuất bản Kim Đồng, 2005).

Phong cách sáng tác cho thiếu nhi của nhà văn Trần Trung Sáng có nét gì nổi bật?

Tác giả định hình dấu ấn với thế giới đồng thoại và ngụ ngôn giàu chất thơ qua 3 tập sách: tập truyện ngắn Ngày chủ nhật tuyệt vời (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1988), Cổ tích họa sĩ gù và con chim xanh (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1990) và truyện vừa Búp bê phiêu lưu ký (Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1991).

Hình tượng nhân vật trẻ em trong luận văn được phân chia theo những tiêu chí nào?

Nghiên cứu phân loại nhân vật trẻ em thành 2 nhóm không gian - thời gian: trẻ em thời chiến mang bản lĩnh kiên cường, dũng cảm làm liên lạc trong mưa bom bão đạn và trẻ em thời bình sống động với các trò chơi dân gian, giàu trí tưởng tượng và khát vọng khám phá thế giới xung quanh.

Giá trị ứng dụng thực tiễn lớn nhất của đề tài này là gì?

Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu học thuật chuẩn mực để đưa các tác phẩm văn học thiếu nhi tiêu biểu vào giảng dạy trong 100% các tiết học văn học địa phương thuộc chương trình Ngữ văn phổ thông tại Đà Nẵng, giúp học sinh bồi đắp niềm tự hào về truyền thống văn hóa quê hương.

Vì sao luận văn lại lựa chọn khảo sát đồng thời cả hai tác giả Bùi Tự Lực và Trần Trung Sáng?

Cả hai tác giả cùng sinh năm 1954, cùng đại diện cho lực lượng sáng tác sung sức của văn học Đà Nẵng sau năm 1975. Sự kết hợp giữa mảng đề tài ký ức chiến tranh của Bùi Tự Lực và thế giới cổ tích đồng thoại của Trần Trung Sáng tạo nên một bức tranh hoàn chỉnh về diện mạo văn học thiếu nhi địa phương.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện hành trình sáng tác và phong cách nghệ thuật của hai tác giả tiêu biểu Bùi Tự Lực và Trần Trung Sáng.
  • Khắc họa sâu sắc thế giới nhân vật đa dạng từ trẻ em, phụ nữ đến thế giới đồng thoại, góp phần giáo dục các giá trị Chân - Thiện - Mỹ cho tuổi thơ.
  • Làm sáng tỏ các đặc sắc nghệ thuật về xây dựng tâm lý nhân vật, ngôn ngữ giàu chất thơ và giọng điệu trần thuật đa thanh.
  • Cung cấp nguồn tài liệu học thuật giá trị phục vụ đổi mới phương pháp giảng dạy văn học địa phương tại các trường phổ thông.
  • Khẳng định vị trí xứng đáng của văn học thiếu nhi Đà Nẵng - Quảng Nam trong dòng chảy văn học thiếu nhi Việt Nam thời kỳ đổi mới.

Về kế hoạch phát triển tiếp theo, các nhà nghiên cứu cần mở rộng phạm vi khảo sát sang các tác giả đương đại khác trong giai đoạn 2024-2027 để hoàn thiện bức tranh toàn cảnh về văn học thiếu nhi miền Trung. Kính mời quý độc giả, thầy cô giáo và các nhà nghiên cứu tiếp cận toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác tối đa nguồn ngữ liệu quý giá này trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học.