mở đầu của loại hình truyện truyền kỹ trung đại Việt Nam, nhưng về nguồn gốc ban đầu ông cho rằng: “Các truyện Chữ Đẳng Tứ, truyện Hà Ô. Lôi, truyện Trẫu cau. được ghi trong Lĩnh nam chích quái thực ra cũng đã có mầm mồng của thể loại truyền kỳ rồi. Trần Thị Băng Thanh cho.
tầng thế kỉ XVIII và đầu thé ki XIX văn học trung đại Việt Nam mới xuất hiện loại hình truyện truyền kỷ, tác giả nhận định: “Vào thể ki XVI va dé thé ki XIX, trong văn học Việt Nam xuất hiện nhiễu tác phẩm ghỉ chép truyện lạ, truyện kỳ: Thuyền kỹ tân phá của Đoàn Thi Bi Lan Tri kit vấn lục của Va Trinh, Tang thương ngẫu lục của Pham Dinh Hỗ và Nguyễn Án” [39, 116} Ngược lại, Vũ Ngọc Khánh trong sách Kho tang truyện truyén kj lết “Nam đưa ra quan điểm: ‘hing ta còn cả một kho sách khá phong phú gồm những tạp thuật, iệp ký, chí đi, ký, truyên v. nói một cách nghiêm tức thì tắt cả những truyện ấy đều là truyện truyền kỳ cả” 39, tró]. Như vậy, Vũ 'Ngọc Khánh đã “đẩy lịch sử truyện truyền kỹ lên tận thể kỹ 13, 14 và danh mục tác phẩm truyền kỳ có cả các loại sách “tạp thuật", như Sơn cư tạp thuật, “tigp ký” như Cổng dự iệp Ký, “tùy bút” như Ví trung tủy bút, kể cá loại thần tích." 39, trố] Pham Van Thắm trong công trình Ngàin cứu vấn bản và đánh giá thể loại truyén kỳ viết bằng chữ Hân ở Liệt Nam thời trung đại, căn cứ vào các tiêu chí lựa chọn, xác định loại hình đưa ra bảng danh mục truyện truyền kỳ viết bằng chữ Hán gồm 49 truyện có trong 8 tác phẩm (Thánh Tông di thảo, Truyễn kỳ mạn lục, Cong de tiép lý, Truyền kỳ tân phủ, Tân tray kỳ le, Lan Trì kiến văn lục, Việt Nam k) phùng sự lục, liên nang tiểu sử) [39, tr.59], day, Phạm Văn Thắm cũng đồng quan điểm với Kiều Thu Hoạch cho rằng truyện truyền kỳ mở đầu với tác phẩm Thánh Tổng đi thảo của Lê Thánh “Tông, phần văn bản gốc ra đời thể kỉ XV là tác phẩm mở đầu, số lượng các. truyện truyền kỹ có thể nằm “rai rác", dan xen trong các tác phẩm truyện lớn hơn.
“Tóm lại, truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam có một lịch sử phát triển của mình. Xuất phát và vận dụng những tiền đề từ văn học dân gian, văn học viết có tính chất "kì ảo” trong nền văn học viết dân tộc, truyện truyền kỳ có những thành tựu nỗi bật đồng góp tích cự vào sự phát triển của văn học trung, đại Việt Nam. Căn cứ trên những đánh giá, nhận định của các tác giả nghiên cứu và các tả liêu, văn bản hiện còn, chúng ta có thể phác thảo ra một trình phát triển chung của loại hình truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam qua các giai đoạn như sau: ~ Tử thế kỉ XIV trở về trước, chịu tác động thụ động từ văn học dân gian, với các thể loại tiễn thân” cho truyền kỳ như: Linh Nam chích quái lực (dân gian; Sau được Vũ Quỳnh, Kiều Phú sưu tằm, chỉnh lí thinh “Linh Nam chich quải liệt truyện", 2 quyền - cuỗi thể kỉ XV), Việt điện ứ link tập (Lí Tế “Xuyên), Thiển uyễn tập anh ngữ lục (chưa rồ), Lĩnh Nam chích quái (Trần “Thế Pháp). - Từ thể ki XV đến XVI thời kì đình cao với sự xuất hiện hai tác phẩm.
tiêu cho loại hình văn học truyền kỳ là Thánh Tổng di théo (Lê Thánh ‘Tong) và Truyén kj’ man lục (Nguyễn Dữ). Văn học truyền kỳ lúc này chịu sự chỉ phối và ảnh hưởng sâu sắc từ văn học truyễn kỳ Trung Quốc và khu vực. ~ Từ thể kỉ XVIII đến đầu XIX, với xu hướng cách tân thể loại truyền kỳ din đi vào con đường suy thoái. Các tác phẩm tiêu biểu như: Truyén &ÿ tân phả (Đoàn Thị Điểm), Tân truyễn kỳ lục (Phạm Quý Thích), Lan Tri ki vấn lục (Vũ Trình).2, Méi quan hệ giữu truyện truyền kỳ trung đại với yêu tb lich sit Trong con mắt của các nhà nho thời trung đại thì văn học hư cấu như truyện truyền kỳ, chí quái là thể loại không được xem trọng, thậm chí bị coi khinh.
Do vậy, ở những thử nghiệm đầu tiên, thể loại này đã cố gắng đưa những sự kiện sử học vào tác phẩm, thậm chí là càng gần sử cảng tốt. Các nhà văn truyền kỳ ở thời kỳ đầu đóng vai trỏ như một nhà sử học, họ cổ gắng tạo cho tác phẩm của mình tính chân thực và nghiêm túc của sử học bằng cách trích dẫn hoặc lấy tư liệu cho tác phẩm của mình như một sự bổ sung thiết yếu cho các tác phẩm sử học, một "nỗ lực của giới văn nhân nhằm bổ di cho Việt sử những điều vốn không được (hoặc không thể) ghỉ biên một cách chính thức" [26, tr.186), 'Nhân vật, sự kiện, thời gian, số liệu. trong những tác phẩm truyền kỳ thường là những cứ liệu có thật trong lịch sử, tuy nhiên trong tác phẩm truyền. kỳ những yếu tổ "sử học” này đã được sáng tạo lại, trở thành những câu chuyện, hình anh, m6 tip gidu tinh nghệ thuật, tạo ra các giá trị văn chương, thực sự.
Vã đây cũng là một trong những nguồn gốc và động lực thúc đây sự phát triển của truyện truyền kỹ trung đại. "Đặc điểm nỗi bật nhất trong mỗi quan hệ với văn xuôi lịch sử là tính chất “van dụng” theo hướng "cố sự tân biên” chứ không lệ thuộc hoàn toàn vào các số liệu sử học ở các truyện truyền kỳ trừng đại Việt Nam. Có thể nói, trong sự phát triển của mình truyện truyện kỳ đã cổ gắng tích ra khỏi mỗi quan hệ văn - sit - triét bất phân trong thời trung đại, nhằm hướng đến khẳng. định mình trong thể độc lập.
Trong các giai đoạn phát triển sau (từ XVI trở đi), các nhân vật lịch sử đã có thêm những yếu tổ mới, những khía cạnh mới về nhân cách, về cuộc sống. Dau hiệu "lời bình” ở phần cuối tác phẩm, do tác giả hoặc một ai đó đã viết cho tác phẩm như một "cái đuôi” còn sót lại của thể loại bình sử, chép sử trước đó, dần mắt đi hoặc được vận dụng một cách sắng tạo (trường hợp Truyén &ỳ sân phá, và Tân truyễn kỳ lục lời bình được hòa vào lồi văn kế chuyện), cho thấy cổ gắng của các tác giả không muốn phụ thuộc vào văn học "chức năng”, và xây dựng một loại hình truyện ngắn nghệ thuật độc lập thực sự. Tóm lại, lịch sử hình thành, phát triển của loại hình truyện truyền kỳ trung đại được thai ng từ trong tâm thức, tr duy, tín ngưỡng thd thin, tn ào phép màu, linh nghiệm của nhân dân, đến việc tiếp thu những thành tựu cỗ tích dân gian, những tác phẩm u lĩnh, chỉ quái thuộc đông văn học kì ảo trung đại, những kinh nghiệm, tác động từ văn học truyền kỳ 'khu vực để cho ra đời những tác phẩm truyền kỳ có tính chất văn học thực sự. Cho dén nia sau thé ki XIX, hi bối cảnh thời đại, lịch sử xã hội Việt Nam có nhiễu thay đổi nhanh chóng, mô hình nhà nước phong kiến rơi vào.
suy thoái, ảnh hưởng của văn hoá phương Tây, chữ Hán và chữ Nôm mắt dần địa vị thống trị để nhường chỗ cho chữ Quốc ngữ, tầng lớp trí thức tây học. mới với những như cầu thưởng thức nghệ thuật mới xuất hiện. Loại hình truyền kỳ trung đại dần đi vào chỗ thoái trào, rồi chấm đứt vai trò của mình trên văn đản, sau đó lại được "tái sinh” dưới nhiều hình thức khác nhau và thể n vai trỏ, vĩ tí, sức bắp dẫn cia minh rong văn học hiện đại 1. Khai quit vé tác giã, văn bản nhóm truyện truyền kỳ 1.
Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục 1. Cuộc đời, sự nghiệp "Nguyễn Dữ ( - ?), người gốc xã Đỗ tùng, sau đổi là Đường Lâm, huyện Gia Phúc, phủ Hồng Châu, (nay là xã Đoàn Tùng, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương). Hiện nay, vẫn chưa xác định rõ được năm sinh năm mắt của ông. Ong li con trai trưởng của Nguyễn Tường Phiêu, Tiến sĩ khoa Bính Thin, niên hiệu Hồng Đức 27 (1496), từng được trao chức Thửa sánh sứ và khi mắt được phong chức Thượng thư.
Dựa vào những cứ liệu hiện thời, Nguyễn Dữ có khả năng sinh vào khoảng cuối thé ki XV, sống và sáng tác vào khoảng nữa đầu thể kỉ XVI "Nguyễn Dữ từ nhỏ đã chăm học, ôm ấp hoài bão v con đường công danh, sự nghiệp sau này. Ong tham gia thi Hương, thi Hoi Nguyễn Dữ đỗ Tam trường, và từng giữ chức Tri huyện huyện Thanh Tuyển. Nhưng giữ chức chỉ được một năm thì ông từ quan, xin về quê phụng dưỡng mẹ già “Có thể hành động từ quan về ở ẩn của Nguyễn Dữ là do bắt mãn với triều đình phong kiến cằm quyền, đặc biệt là với hành động tiếm ngôi nhà Lê của Mạc Đăng Dung. Nguyễn Dữ đã không chọn quê hương, chốn mình sinh +a lim noi ấn dật, có lẽ do lúc đó Hải Dương đang là chiến trường của nhiều cuộc giao tranh, cũng là đắt "phên dậu” của nhà Mạc.
Nguyễn Dữ về với núi rừng Thanh Hóa xa xôi và yên tĩnh, mở lớp dạy học trỏ, sắng tác văn học, khong bạo giờ bước chân đến chấn thị thành. Hiện nay, di cảo của Nguyễn Dữ còn lại duy nhất là một tập truyện văn xuôi chữ Hán Truyển kỳ mạn lục. Tác phẩm được đánh giá cao, xem là một kiệt ác rong văn xuôi rung đại Việt Nam, là "thiên cỗ kỉ bú 1g vin hay ccủa bậc dai gia” muôn đời. + Nhôm văn bản mang niên đại Cảnh Hưng 35 (1774).
Nhóm này có một số bản khắc in và chép tay, hi đang được lưu ở các Thư viện Viện nghiên cứu Hián Nom, va Thư viện Viện Văn học. Truyền kỳ mạn lục đã được Cát Thành tuyển dịch 12 truyện ra chữ Quốc ngữ đầu tiên, do nha in Thai Bạch Bưởi, Hà Nội công bố năm 1912. là bản dịch của Trúc Khê Ngô Văn Triện, công bổ lần đầu năm 1935, sau đó được NXB Văn hóa tái bản năm 1967, NXB Van học tái bản năm 1971, NXB “Trẻ Thành phố Hồ Chí Minh tái bản năm 1989. Tác phẩm cũng đã được dịch a một số thứ tiếng khác trên thế giới như: tiếng Pháp, tiếng Nga.
Đoàn Thị Điểm và tác phẩm Truyền kỳ tân phả 1. Cuộc đời, sự nghiệp Đoàn Thị Điểm (1705 ~ 1784), hiệu là Hồng Hà nữ sĩ, sinh ở làng Giai Phạm (sau đổi là Hiển Phạm), thuộc huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là huyện Yên Mĩ, Hưng Yên). “Sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiểu học, cha là Đoàn Doãn. 'Nghỉ đậu Hương cống (Cử nhân) thoi Lé Mat.