CHƯƠNG 1 NGUYEN QUANG THAN TRONG DIEN MAO TIỂU THUYẾT LỊCH SU VIET NAM DAU THE KY XXI 1.1, NGUYEN QUANG THAN - HANH TRINH SANG TAO VA QUAN NIEM NGHE THUAT 1.1, Hành trình sáng tạo Suốt quảng đời niên thiếu được đắm mình trong sông núi, đất trời quê hương - nơi có bến phà Linh Cảm, có hai con sông Ngàn Sâu, Ngàn Phó, có. núi Hồng Lĩnh và dây Giăng Màn (Trường Sơn), cùng với sự thừa hưởng, “nguồn gien” của một gidng họ đã bao đời đi theo con đường cử tử, lớn lên lại được học tập, trải nghiệm ở những ngôi trường ma theo ông là "có không khí trọng văn”, Nguyễn Quang Thân không chỉ “thành thân, thành người” như sự kỳ vọng của gia mà cuộc đời còn đặt vào ông sứ mệnh của một người cầm bút ~ một nhà văn. Với bản tính thích trải nghiệm, “không muốn lệ thuộc. nhiều vào những tín điều sẵn có”, Nguyễn Quang Thân say sưa tìm tòi, thể nghiệm ngôi bút trên nhiều lĩnh vực từ văn chương đến báo chí, trên nhiều thẻ loại từ truyện ngắn, tiểu thuyết đến kịch bản văn học.
Ở mỗi thể loại, nhà văn đều gặt hái được thành công và có những đóng góp nhất định. Vào nghề từ khi tuổi đời còn rất trẻ, con đường sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Quang ‘Than trai dai trên cả hai giai đoạn có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử văn học. nước nhà: trước và sau năm 1986. Giai đoạn trước 1986 'Về tổng thể, sáng tác của Nguyễn Quang Thân giai đoạn trước 1986 tập trung ở truyện ngắn.
Dây cũng là thể loại nhà văn lựa chọn để trình làng với truyện ngắn Một chuyển đi Nga — tác phẩm viết về đề tài cải cách ruộng đất được đăng trên các báo như Độc lập, Nhân dân. Mới chuyến đi Ngư đã mang đến cho nhà văn niềm vui sướng khi thấy tên mình và truyện của mình được những người bán báo quảng cáo trên các chuyến tàu điện. Từ niềm vui ban đầu, cùng với những nỗ lực tự học không ngừng và đặc biệt là sự rèn giữa từ ngôi trường đào tạo nhà văn trẻ Quảng Bá, Nguyễn Quang Thân dần trưởng. thành, “dần dần tự thấy mình không thể làm nghề gì khác ngoài việc viết văn”.
Nhiều ý tưởng sáng tạo được gợi dậy và mang đến cho nhà văn một số. giải thưởng trong các cuộc thi viết truyện ngắn như: giải nhì truyện ngắn (không có giải nhất) Bức thư trong rừng trên báo Thống nhất (1960); giải ba truyện ngắn Cơn bão Hï ~ giải thưởng duy nhất giành cho truyện ngắn viết về những con người đang xói mòn về đạo đức do báo Văn học tô chức. Kể tử đó, trong vòng 30 năm cầm bút, Nguyễn Quang Thân miệt mài viết và cho ra đời gần chục tập truyện: Nước về (1957), Đềm phương Tây (in chung cùng Hoàng Tuấn Nhã, 1960), Huong dat (1964), Cô gái Triều Dương (1961), Ba người bạn (1910), Những người chính phục (1977), Nép gdp (1978), Những chùm cúc biển (1979) Đa số truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân giai đoạn này đều đề cập đến vấn đề cuộc sống, con người trong chế độ xã hội mới với nhân vật trung. tâm là người trí thức hăng say lao động và cống hiến hết mình.
đến những vấn đề khá nhạy cảm song con người trong truyện ngắn Nguyễn Quang Thân trước 1986 vẫn là con người của cộng đồng, được xây dựng khá. đơn giản, ít có những suy tư trăn trở về cuộc đời, số phận - kiểu nhân vật tiêu. biểu cho nền văn học mang sứ mệnh cỗ vũ con người lao động, chiến đấu trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của đắt nước. Tuy nhiên, là một nhà văn độc lập, bản lĩnh, không ngừng trăn trở với nghề, đã có lúc Nguyễn Quang Thân tự nhũ *không thể viết như trước, không thể nửa vời như trước.
Cuộc sống, cquả thật không cần ai mình hoạ nó" [77]. Bằng chứng cho tuyên bố đó là sự ra đời của Người không đi cùng chuyến tàu (1980) — truyện ngắn viết về nỗi đau của con người khi bị xói mòn nhân cách vì théi cơ hội, vụ lợi, n trên báo Văn Nghệ (sau này được in trong tập truyện cùng tên, 1989). Dù Người không đi cùng chuyển tàu một thời khiến Nguyễn Quang Thân phải lao đao bởi những nghỉ ky, “quan điểm sáng tác phức tạp” song nó như một tín hiệu cho thầy ý thức đổi mới của nhà văn trên hành trình sáng tạo, mà sau này chính ông đã tâm sự: Người không đi cùng chuyển tàu đã giúp ông tìm được "lối trở lại với văn học cho mình và có thêm được nhiều bạn bẻ và độc giả tâm đắc” [77], Cùng với truyện ngắn, sáng tác của Nguyễn Quang Thân giai đoạn này. còn có sự góp mặt của tiểu thuyết.
Với sự ra đời của tiểu thuyết Lựa chọn (1977), Nguyễn Quang Thân tiếp tục thể hiện những vất l từng quan tâm ở thể loại truyện ngắn song ông vẫn luôn day dứt vì chưa đi đến tận cùng những. Bởi theo tác giả, cuộc kháng chiến chống Mỹ dù đã đi đến thắng. tơi nhưng kỹ luật tư tưởng vẫn nghiêm khắc. Trong bối cảnh ấy, những người viết và in như ông, íLai đi được đến cùng.
Hơn năm năm sau, Nguyễn Quang, Thân cho xuất bản cuốn tiểu thuyết thứ hai = Chứ bé có rài bé khóa (1983) 'Với tác phẩm này, Nguyễn Quang Thân đã khiến bạn đọc không khỏi bắt ngờ. bởi nhà văn không chỉ sung mãn ở thể loại truyện ngắn mà còn có thế mạnh. khi thể nghiệm ngòi bút ở một thể loại hoàn toàn mới - tiểu thuyết viết cho. Ngay từ khi ra dời, Chú 5é có tài bé khóa đã được dư luận đánh giá rất cao và là cuốn sách mang.
:ho Nguyễn Quang Thân giải thưởng danh giá của Hội Nhà văn Việt Nam (1983). Đến nay, Chú bé có dải bẻ khóa vẫn là một trong những tác phẩm được các em nhỏ yêu thích và được tái bản lên đến 6 lan. Giai dogn sau 1986 Được tiếp lửa từ công cuộc đổi mới văn học của Đảng, Nguyễn Quang, Thân thật sự tìm được chính mình trên hành trình sáng tạo nghệ thuật. Hơn bao giờ hết, ông miệt mài đi, miệt mài viết với mong muốn suốt đời là “đặt được chân vào lãnh địa bí ấn của cái gọi là sắng tạo văn học và sứ mệnh của nhà văn” [77] Nếu ở giai đoạn trước đó, hầu hết truyện ngắn của Nguyễn Quang Thân tập trung ca ngợi vẻ đẹp con người trong lao động thì từ năm 1986 trở về sau, các tập truyện của ông đều hướng đến phơi bày hiện thực cuộc sống muôn.
màu muôn vẻ với nguồn cảm hứng chủ đạo là cảm hứng thế sự đời tư. cái nhìn hiện thực sắc sảo, Nguyễn Quang Thân đã sớm phát hiện ra bao vấn đề nhức nhối của cuộc sống con người sau chiến tranh. Đó là một xã hội đầy. phức tạp luôn có sự nhập nhoạng giữa tốt — xấu, đúng — sai, that — giả, phải — trái, một xã hội mà ở đó các giá trị đạo đức bị chao đảo một cách nghiêm.
trọng bởi sự xuất hiện của lối sống thực dụng, tình trạng lửa lọc, lợi. Trên hành trình khám phá những buồn - vui của cuộc s \g, Nguyễn. ‘Quang Than phát hiện ra bì kịch của con người trong bối cảnh phức tạp của nền kinh tế thị trường, đặc biệt là bi kịch của những người trí thức, Họ hoặc bị trù dập, bị dồn đẩy vào cảnh đơn độc, sống trong ghen ghét, đố kị của người đời hoặc phải hùa theo thói thường để tồn tại, luôn phải sống trong đau đớn, trăn trở, dẫn vặt. Với các tập truyện ngắn in sau năm 1986 như: Người không đi cùng chuyến tàu (1989), Vũ điệu cái bô (1991), Hoa cho một đời (1996), Giữa những điều bình dị (2007), Nguyễn Quang Thân đã thể hiện quan niệm.
nghệ thuật hoàn toàn mới về hiện thực. Đó là hiện thực cuộc sống bề bộn, phức tạp của thời kỳ mở cửa. Ở đó, nhà văn đào sâu vào những bí ẩn bên trong đời sống tâm hỗn con người, soi chiếu họ từ nhiều góc độ, cả cái tốt lẫn cái xấu, cả mặt cao cả lẫn thấp hèn. Nhiều tác phẩm trong các tập truyện ấy đã tạo được hứng thú cho cả người viết lẫn bạn đọc, được trao giải, được in đi in lại nhiều lần.
Tiêu biểu là Chẩn đưng, Vũ điệu cát bổ, Thanh minh và một số truyện ngắn khác. Trong đó, ba truyện ngắn kể trên đã đến được với bạn đọc quốc tế, được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Anh và in ở nước ngoài. Đó quá thật là niềm vui không nhỏ của bất kì người cằm bút nào. Bên cạnh sự khởi sắc của truyện ngắn, sau công cuộc đôi mới văn học, Nguyễn Quang Thân còn gặt hái không ít thành công ở thể loại tiểu thuyết.
Năm 1988, Nguyễn Quang Thân cho ra đời cuốn tiểu thuyết Một dhời hoa mẫu đơn - tác phẩm viết về tình yêu và số phận của con người trong cải cách ruộng đất và kháng chiến chống Pháp. Kế đến là tiểu thuyết Ngoài khơi miễn đất hứa (1990)— tác phẩm được nhà văn Huy Phương đánh giá là “cuốn sách đáng chú ý trong năm”, được Trin Dao (Phan Huy Dường) ngợi ca: “Ngoài khơi miền đất hứa, một huyền thoại của thời hậu chiến” [77]. Cuỗn sách còn được Kim Bayard dịch sang tiếng Pháp, được nhà xuất bản Philippe Piequier (Pháp) phát hành năm 1997. ‘Tro di trở lại trong những trang tiểu thuyết viết về dé tài thế sự sau 1986.
như: Một thời hoa mẫu đơn, Ngoài khơi miễn đắt hứa, Nguyễn Quang Thân đã thể hiện nỗi trăn trở của mình trước sự thay đổi nhân cách con người trong hoàn cảnh sống mới. Đó là lối sống chạy theo đồng tiền, lạnh lùng, vô cảm, sông phẳng đến đáng sợ hay tâm lý chuộng danh, dạo đức giả, tệ tham nhũng, cquan liêu, đục khoét của một bộ phận những kẻ có chức, có quyền trong bộ máy lãnh đạo nhà nước, sự xuống cấp nghiêm trọng của đạo đức, nhân phẩm con người. Trong xã hội ấy, những người lao động chân chính, những người trí thức đầy hoài bão và khát vọng sáng tạo lại đang dần mắt đi chỗ đứng, trở nên cô đơn, lạc loài trước thời cuộc. Dù vậy, mỗi trang viết của Nguyễn Quang Thân vẫn lấp lánh ánh sáng của niềm tin vào vẻ đẹp tâm hỗn và nhân cách của con người.
Trong bất kì hoàn cảnh nảo, những con người ấy vẫn không đánh mắt danh dự, nhân phẩm của minh, âm thằm lặng lẽ cống hiến cho đời như “những đóa *Woa mẫu đơn trên mặt đất đen bắn, tanh nồng vẫn rực rờ vẻ đẹp lương thiện”. Văn chương của Nguyễn Quang Thân vì thế không chi có ý nghĩa cảnh tỉnh, thức tỉnh con người, nhà văn còn tin tưởng, động viên họ sống tốt, sống đẹp hơn.