Mở đầu, Kết luận và Tải liệu tham kháo, Nội dụng của luận văn gầm có ba chương sau đây: “Chương |. Hành trình sáng tạo tiểu thuyết vả quan niệm nghệ thuật của Chu. Lái “Chương 2, Thể giới nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiễu thuyết Chu Lai “Chương3, Nghệ thuật trẫn thuật rong tu thuyết Chu Lai Chương l. HANH TRINH SANG TAO TIEU THUYET VA QUAN NIEM NGHE THUAT CUA CHU LAL 1.
Khái lược hành trình sáng tác của Chu Lai “Cuộc đời bình nghiệp của một chiến sĩ đặc công đã từng đi qua những năm ‘thing đau thương, khói lửa chiến tranh đã khiến Chu Lai gắn bó sâu nặng với mảng để tải hid tranh - người linh. Hơn ba mươi năm cằm bút trăn rỡ với người, với đồi, với nghệ, Chu Lai đã viết nên nhiều tác phẩm có giá tr. Riêng ở th loại tiểu thuyết, Chu Lai đã có các tác phẩm được xuất bản như Nắng đồng bằng (978), 'Đêm tháng hai (1979), Sông xa (1986), Gió không thôi tir bién (1984), Vong tron bối bạc (1987), Bãi bở loang lạnh (1990), Ăn mày đĩ văng (1991), Phd (1992), Ba ắn và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi trắng cuối cùng (3004), Chi con một lẫn (3006), Hùng Kar9 (2010). Bằng sự lao động miệt mãi, có trích nhiệm với nghề, Chu Lai đã gặt ¡ được nhiều giả thưởng như gi thưởng Hội đẳng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng vũ trang của Hội Nhà văn cho tiểu thuyết Ấn my đĩ vãng năm 1993, Giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng năm 1994, Giải thường tễu thuyết của Nhà xuất bản Hà Nội với tiêu thuyết Phổ năm 1993, Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 Khởi đầu sự nghiệp cằm bút từ năm 1978, hành trình sáng tạo của Chu Lai ân đồng qua bai chăng đường trước và sau thời kì đổi môi (1986) LLL, Tiéu thuyét Chu Lai trước đổi mới Nhà văn Chu Lai bắt đầu cằm bút vào những năm đắt nước mới thống nhất khi văn học mới bắt đầu định hình và manh nha để tạo nên hình hài mới.
Tiêu tha giải đoạn này được xem là sự chuyển tiếp tr dang vn hoe seth sang vin học thời hậu chiến. Tuy đã có ý thức thay đổi nhưng tiểu thuyết vẫn trôi theo khuynh hung sir thi. Nam 75, áo đã sống như để (Nguyễn Trí Huân), Miễn chúy (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn gió ắc (Khuất Quang Thuy), Đẳng bạc trắng hoa de (Ma Vin Khing), Ho cing tới với những ai (Thái Bá Lại) là những tiễu thuyết như thể, Tiểu thuyết Chu Lai trước đổi mới (1986) cũng nằm trong nguồn chung Ấy. Hành trình sáng tạo từ Nẵng đẳng bằng đến Sóng xa là sự nỗ lực sáng tao vượt thoát chính mình của Chu Lai.
Nắng đng bằng là tiêu thuyết đầu tay thành công, khẳng định tên tuổi của Chu Lai. Tiêu thuyết này gidu chất thơ, đậm tính sử thí và chất lăng mạn bay bỗng. Qua cuộc hành quân về với đồng bằng của Hoài Linh và đẳng đội, ta cảm nhận được vẻ đẹp của những người lính ngời sing phẩm chất eao đẹp và ý chỉ chiến đấu kiên cường. Đến Sống xơ thì vẫn viết về những con người kiên cường như thể nhưng bu thuyết nhiều hơn, tinh sir thi nhạt in, gương mặt thảm khốc của chiến tranh đã hiện ra rõ rằng hơn bên cạnh sự bị trăng Vit vé chiến tranh và người lính, những tác phẩm: trong giai đoạn này chủ xu ti hiện lịch sử với khuynh hướng sử tỉ.
Mỗi gu thuyết là một bức tranh hiện thực chiến tranh hào hùng, đầy gia khổ, bỉ thương nhưng không hề mắt đi vẻ đẹp lí tưởng ngời sing. Nhân vật người lĩnh tuy gặp những đón dau bỉ kịch về mắt mắt gia đình, có thé vi su ch kỉ, nhỏ nhen của lồng người mà bị hiểu lầm nhưng đều vững tủn lí tưởng, cằm chắc tay sing dinh gite, kiên cường, dũng cảm, không hÈ nao nding ‘Tuy nhiên, nhà văn không đã sâu tái hiện chiến tranh trên điện rộng mà đã chi «én 6 phận từ ig nhân vật, phân tích và. lí giải các biến cố, sự kiện. Chiến tranh cũng không chỉ có hoa chiến thẳng vĩnh quang mà còn đầm mắu và nước mắt “Chu Lai đã có những trang văn thể hiện chân thật những tổn tắt t lớn, những khốc liệ ca cố chiến khi các nhân vật lần lượt ngã xuống.
Tính chất bỉ trắng trong khỉ iết về chiến tranh này của Chu Lai có tính chuyển tiếp, vượt rào để chuẫn bị đưa Liễu huyết chuyển mình bước sing một thời kì mới 1. Tiéu thuyét Chu Lai sau đổi mới Những tiêu thuyết của Chu Lai sau 1986 vẫn thủy chung với đề tài chiến tranh nhưng đã thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ trên trang vi so với những tiểu thu của nhà văn ở giai đoạn tước. Trang vin Chu Lai sau 1986 đã cho thấy những đổi mới mạnh mẽ về cảm húng, nội dung lần nghệ thuật thể hiện so với những tiểu thuyết của nhà văn ở giai đoạn trước. Ở Sống xz (1986), Bãi ở hoang Xanh (1990), những tìm tôi thể nghiệm chưa nhiều nhưng đến Vông rà bội bạc, Ấn ‘may dt ang, Phd, tang vit Chu Lai da cho ta thly nội lục đồi đào của một nhà văn không ngừng nỗ lực "tự làm mới” Cai đoạn này, ngôi bit Chu Lai đã sâu vào trăn trở về số phận người lĩnh thời hậu chiến, ngẫm suy về chiến tranh trong cái nhìn phân tích.
Cảm hứng sir thi đã chuyển sang khuynh hướng phi sử thì hóa, cái nhìn đối lập nhị phân địch ~ ta cing nhạt dẫn, người lĩnh Không côn là kiểu nhân vật í tưởng được hi trong cảm hứng ngơi ca mà trở thành những con người sống động, xấu tốt lẫn lộn với những vết thương tâm hẳn khó lành seo, Vong trôn bội bạc đã gôp một cái nhìn mới về chiến tranh và người lĩnh Tác phẩm đã xoây sâu vào cuộc đồi bi kịch lạc thời, cô đơn, lạc lũng cũa nhân vật Hoài Linh. Và nỗ cũng nhúc nhối khi phân ánh sự tha hóa của người lính qua nhân vật Huấn — người đồng đội dũng cảm một thời của Linh giữ ở thành một tên cường hào gian manh trong xã hội mới “Ấn mày đĩ văng — tiêu thuyết được giải thưởng của Hội nhà văn năm 1992 ~ Tả tác phẩm gây được tiếng vang, thể hiện đầy đủ nhất nội lực cằm bút của Chu Lai. “Tác phẩm này được xem là đình cao trong sự nghiệp sảng tác của nhà văn. Trỏi theo đồng hồi ức của nhân vật Hai Hùng, tác phẩm xoáy sầu vào bỉ kích lạc thờ, mặc cảm tàn phế, ám ảnh chiến tranh của người inh thoi hậu chiến.
Ăn mày đĩ vững không chỉ cho thấy sự đổi mới của kỹ thuật tiễu thuyết hiện đại mà mở ra thăm thắm những via ting khim phá về hiện thực chiến ranh và cuộc đời người lính. “Cũng với Vòng tràn bi bạc, Ấn may đĩ vàng, Phổ là tác phẩm khá thành công của Chu Lai khi viết về sự xuống cắp nhân cách người lính trước sự thay đổi của cơ chế thị trường. Tiểu thuy ip dẫn không chỉ bởi kỹ thuật lắp ghép theo cấu trúc truyện lồng truyện, sự đa giọng điệu với kết hợp đa điểm nt mà côn ở những trăn tr rất người, tất đời của nhà văn vỀ người lnh rước cuộc sống. Trong con phố nhà bình đang on mình lên vì phải gánh chịu những đổi hay, đau đón khỉ phải tự "mình bóc xé đi những nét xưa cũ, hảo hoa để thay vào đ là những nét mối nữa vời chua chất thì tùng gia đình, từng số phân đang bị cuốn xoây vào trong guồng mê kiếm tiền, bị đồng tiên chỉ phối.
Viết về chiến tranh, Chu Lai xoáy sâu vào những vấn đề như bi kịch người lính thời hậu chiến, vẫn để hoàn thiện nhân cách của người ah. Tắt cả đã được ti hiện sinh động trong những trang văn thể hiện rõ những đổi mới, thế nghiệm rong nghệ huật thể hiện "Vào những năm đầu thể kỉ XXI, Chu Lai vẫn thủy chung với đề ti chiến tranh mà mình tâm huyết cả cuộc đi. Tác phẩm của ông hông đĩ sâu vào những dỗi mới về hình thức theo kỹ thuật iễu thuyết hậu hiện đại. Vẫn cách viết vũa quen Xa lạ với tiêu thuyết truyền thống, vẫn lối viết bạo liệt, những iễu thuyết của ông như Ba lẫn và một là, Chỉ còn một lần, Cuộc đời dài lắm, Khúc bi trắng cuối cũng, “Người im Lang va Hing Karé vin là những mảng màn da sắc về hiện thực chiến tranh và cuộc đời người nh.
Ngoài Khúc bí mắng cuối cùng và Người in lặng trở lại với cảm hứng sử tỉ về cuộc chiến đầu hảo hùng thì ñư lấn và mới lẫn, Chỉ côn “một lẫn, Cuộc đời dài lắm đi sân vào sự thà hóa xuống cắp trả trọng của nhân cách người lính, về lộc đấu tranh cũng khốc liệt không kém thời chiến của những con người vốn là đồng đội nay lại ở hai đầu chiến tuyển của thiện và ác “Tích hỏi nguồn cảm hứng chung về chiến tranh và số phân người lính thời hậu chiến, Hùng Karở tạo nên một dòng riêng khí khơi sâu vào cuốc đời gió bụi của "một kẻ giang hồ đã rửa tay gác kiểm. Với lễ viết bạo liệt, giang văn đâm chất dụng tụe đời thường, tác phẩm chính là dòng tâm trạng của Hùng Karô - một kẻ cướp, một tù nhân, một kẻ sống tong giới giang hồ ở miễn đã đồ nhưng vẫn ấn giấu những vẻ đẹp, những khát khao, những nỗi đau về b kịch cô đơn, nỗi loạn, thà hóa của con người Hành trình sing tạo của Chu Lai là hành tình luôn nỗ lực "tự lâm mới” để khẳng định th, Với nhà văn, viết văn chính là rút ruột nhà tơ tâm là sự kết dính sống từ những năm thắng không ngừng trở trăn, kiếm tim, Khai thie via quặng hiện thực cuộc sống. Hành trình đó đãcho thấy sức viết đồi đào của một cây bít ti năng, có phong cách, bứa hẹn sẽ còn mử ra những sáng tạo mối trên con đường phía tước. Quan niệm nghệ thuật của Chu Lai 1.
Quan niệm về công việc sắng tạø của nhà văn Không thuộc thể hệ nhà văn "lãng lẽ thay máu mình” (Bài Việt Thắng) để đến với văn học đổi mới như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng. cũng không thuộc thể hệ nhà văn sau chiến tranh đang *vỡ ra như một cơ thế mới lớn” (Bùi Việt ‘Thing) như Võ Thị Hảo, Sương Nguyệt Minh. Chu Lai thuộc thế hệ những nhà văn đã từng đi qua khói lửa chiến tranh và kết nợ với duyên văn chương sau ngày. đất nước giải phóng.
Văn chương đến trong cuộc đời nhà văn thật tự nhiên.