phần Mở đầu, Kết luận và Thư mục tư liệu tham khảo, để tải ồm 3 chương: “Chương l: Tú Quỷ - hiện tượng văn học độc đáo “Chương 2: Chân dung cuộc sống trong thơ văn Tú Quỷ “Chương 3: Chất dân gian - nét đặc sắc về phương diện nghệ thuật trong thơ văn Tú Quỷ. CHƯƠNG L TU QUY - HIEN TƯỢNG VĂN HỌC ĐỌC DAO ET VE XÃ HỘI VIỆT NAM THỜI TÚ QUỲ. 'Bối cảnh lịch sử, xã hội cuối thé ki XIX. Nita đầu thể kỹ XIX, tinh hình xã hội Việt Nam có nhiều biến động, phức tạp.
phong kiến đã trở nên lạc hậu và kìm hãm sự phát triển của lịch sử. Trong bối cảnh đó, nhà Nguyễn chủ trương củng cố quyền lực, tăng. cường tính chuyên chế nhằm giữ vững quyền thống trị của mình; độc tôn Nho. giáo, hạn chế hoạt động của các tôn giáo khác, đặc biệt là Thiên Chúa giáo “Chính quyền của Nguyễn Ánh đã đi ngược lại lợi ích của nhân dân, của dân tộc Xã hội chia thành hai giai cấp: giai cấp thống trị bao gồm vua quan và địa chủ, cường hào; giai cấp bị trì bao gồm các tằng lớp nhân dân lao động mà tuyệt đại đa số là nông dân.
Giai cấp thống trị chiếm hữu hầu hết ruộng đất, trong khi đó nhân dân hầu như không có ruộng đắt. Dưới thời Nguyễn, hiện tượng quan lạ tham những sách nhiễu nhân dân rất phổ bí Tuy nhà Nguyễn đã rất cố gắng trong việc hoàn chỉnh bộ máy thống trị nhưng vẫn không ngăn được nạn tham nhũng trong giới quan lại Năm 1858, thục dân Pháp kéo quân sang xâm lược nước ta. Các cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Pháp nỗ ra khắp nơi nhưng đều bị thất bại Ba tỉnh Miền Đông rồi đến ba tỉnh Miễn Tây Nam bộ lần lượt về tay thực dân "Pháp. Toàn bộ Nam kỳ trở thành thuộc địa.
Với hòa ước 1884 hay cồn cổ tên là hòa ước Patenôtre (Pa-ơ-n), Pháp cơ bản hoàn thành công việc đặt ách đô hộ lên nước ta. Từ đây, lịch sử Việt Nam bước sang một trang mới. 'Về chính trị thực dân Pháp thực hiện chính sách chia để trị, dùng người ‘Viet dé trị người Việt. Vua quan nhà Nguyễn thành những kẻ bù nhìn, làm tay 10 sai cho giác, quyền lực thực sự nằm trong tay Pháp.
Trong lĩnh vực văn hóa, bọn chúng xây dựng nhà tù nhiều hơn trường học, đầu độc thể hệ thanh niên cia ta bing rượu chè, các tệ nạn xã hội. Hơn nữa, bọn chúng còn xuyén tac lịch sử nước nhà, tuyên truyền văn hóa vong. bản nhằm tiêu diệt ý thúc dân. tộc và tỉnh thần đấu tranh của nhân dân ta.
VỀ kinh tế, bọn chúng thực hiện chương trình khai thác thuộc địa ở quy mô lớn. Chúng khai thác tài nguyên, bóc lột nhân công để phục vụ cho lợi ích của chính quốc. Chúng biến nước ta thành thị trường độc quyền của chúng. Chúng bóc lột ruộng đất của nhân dân "khiến một bộ phân không nhỏ nông dân bị bản củng hóa.
“Xã hội Việt Nam đã có những chuyển biển, những thay đỏ nhất định. _Ngoài hai giai cắp cũ là giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân xuất "hiện thêm các tẳng lớp, các giải cắp mới: giai cắp công nhân, giai cẮp tư sản, và tằng lớp tiểu tư sản. Giai cấp tư sản gồm hai bộ phân là tư sản mại bản và tự sản dân tộc. Tư sản mại bản gắn iỀn vớ lợi ích của thực dân Pháp, tư cân tộc có tỉnh thin yêu nước.
Giai cắp tiểu tư sản xuất hiện ngày cảng đông đảo, bị để quốc phong kiến bóc lột chèn ép. Ho rất nhạy cảm, có tỉnh thần dân te, yêu nước. Giai cắp nông dân bị bin cing héa vi sách bóc lột bạo của để quốc, phong kiến, họ khao khát độc lập và ruộng đắt. Giai cấp, công nhân Việt Nam, mặc dù số lượng ít nhưng nhanh chóng trưởng thành trong điều kin lich sử có nhiều biển động.
Mang những đặc diễm tiễn bộ của giai cấp công nhân thế giới, và mang những đặc điểm riêng, giai cấp công. nhân Việt Nam sẽlà lực lượng lãnh đạo đầu tranh giải phóng dân tộc “Trong lòng xã hội Việt Nam tồn tai hai mâu thuẫn lớn. Đó là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp sang xâm lược; mâu thuẫn giữa nông. <n và địa chủ phong kiến.
Giai đoạn cuối thể kỷ XIX, đầu thể kỷ XX là giai đoạn xã hội Việt Nam bước qua những sự chuyển mình lớn lao trước sự xâm nhập của văn hóa. phương Tây, là giai đoạn hệ ý thức Nho giáo không còn giữ vai trò độc tôn, những giá tị văn hóa bị lung lay, chế độ phong kiến Việt Nam khủng hoảng. trim trong và bước vào con đường diệt vong, 1. 2, Phong trào Nghĩa hội Quảng Nam.
Sau khi kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghỉ rút về Tân Sở (Cam Lô, Quảng Trị), xây dựng căn cứ kháng chiến lâu dai Ngày 22 tháng 5 năm 1885, vua Hàm Nghỉ hạ chí Cin Vuong kêu gợi sỹ phu, văn thân yêu nước đứng dậy chống Pháp, “Tại hai vùng Nghệ Tĩnh và Quảng Nam đã có các tổ chức Cần Vương với danh xưng Nghĩa hội. Từ cuỗi tháng $ đến thing7 năm Ất Dậu (1889), các nghĩa sỹ như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiển ráo tiết chiêu mộ binh sỹ thành lập Nghĩa hội, đặt căn cứ ban đầu tại Tân Tĩnh, “Quế Sơn. Tham gia Nghĩa hội gồm có đông đủ các thành phần trong xã hội cùng các vị khoa bảng (tién sf, cit nhân, tú tài), thân hảo (chánh tổng, phó tổng, tuần tổng, thí sinh), thứ dân. Nơi sơn phòng sứ Trần Văn Dư rắn đóng, trở thành đầu mỗi chỉ đạo và liên lạc của ba tỉnh: Quảng Nam~ Quảng Ngãi — Binh Định.
Do vĩ t chiến lược và uy tín xã hội, lại đang giữ chức chánh sí: sơn phòng Quảng Nam nên Trằn Văn Dư được cử làm hội trưởng. Trong lúc phong trào Nghĩa hội đang trên đà phát triển thì Nhiếp chính Thọ Xuân 'Vương Miễn Dịnh ra chỉ dụ cử Nguyễn Đình Tụu, nguyên Tế từu Quốc Tử (Giám thay Trần Văn Dự, chuyển ông vào làm bổ chính Quảng Ngãi. Ông bèn cáo bệnh , lui về nhà tiếp tục điều hành kháng chiến. Trần Văn Dư chỉ huy `Ngtĩa hội chiếm giữ sơn phòng và uy hip tỉnh thành La Qua (Điện Bản), Để đối phó, thực dân Pháp và quân đội của Đồng Khánh thẳng tay đàn áp và mua chuộc, Khim sứ Pháp ở Huế Deschampeaux điều quản Bắc Phi đánh chiếm lại La Qua.
Quân Nghĩa hội n đánh nhỉ căn cứ quan trọng của Pháp ở Quảng, Nam như thành La Qua, Đà Nẵng, An Hải, Hà Thân, Nam Chơn gây cho quân "Pháp nỉ bu tổn thất. Nghĩa hội nhờ đó mở rộng được uy tín và lực lượng ra khắp Quảng Nam đến Quảng Ngãi, Bình Định và được người dân nhiệt tỉnh. Nhưng sau đó thực dân Pháp tập trung đàn áp, các thủ lĩnh của Nghĩa hội quyết định dời căn cứ về sơn phòng Dương Yên ở Trà My. Căn cứ này được xem như một Tân Sở thứ ai ở các tỉnhphía nam kinh đô Huế Cuối năm 1885, tình hình bắt lợi cho Nghĩa hội khi quân Pháp tấn công ddữ dội sơn phòng Dương Yên.
Tháng 12, theo chỉ dụ của vua Đồng Khanh, Trần Văn Dư bị triệu về kinh để thương thuyết. Ông lên đường ra Huế, khi qua La Qua, ông ghế qua tỉnh đường Quảng Nam và gặp Tuần phủ Quảng nam bẩy giờ là Châu Đình KẾ. Nhưng Trần Văn Dư không ngờ rằng Châu Đình Kế đã hai lòng, theo Pháp. Châu Đình Kế giữ ông lại, xem ông như tướng đầu hàng.
Trước thái độ hồng hách của KẾ, ông đã chữi thẳng vào mặt y là tên bán nước. KẾ bèn nhờ tay quan thầy Pháp ám hại ông. Ngày 13 tháng, 12 năm 1885, Trần Văn Dư bị bắt và bị xử trảm. Sau ngày Trần Văn Dư qua đồi, Nguyễn Duy Hiệu lên làm hội chủ ‘Ong dai ban doanh về làng Thanh Lâm, xã Tiên Thọ lập căn cứ mới.
Căn cứ “Tân tỉnh Trung Lộc được thành lập. Qua nhiều trận huyết chiến, nhiều bình sĩ nổi dây hy sinh. Những người này được đưa về táng ở đổi Gò Cao, khu vực Chồm Bồ (Tiên Mỹ, Tiên Phước). Mộ chí của họ khi chôn đều hướng định đầu về căn cứ chính là sơn phòng Dương Yên.
Can cũ Tân tỉnh Trung Lộc nằm trong một thung lũng, được xây dung trên một cánh đồng rộng, chạy đài khắp hai xa Trung Lộc Tây và Trung Lộc "Đông (nay là xã Quề Lộc, huyện Quế Sơn). Toàn bộ khu căn cứ được bao bọc. bởi những hing rio bing tre, đầu vót nhọn, đan chéo vào nhau như những bản. hông cắm xiên; chung quanh căn cứ được che chắn bởi những núi cao, hào.
B sâu nên thuận lợi cho việc chồng lại sự cản quét của quân Pháp, vốn đưa quân. bằng đường sông từ Đà Nẵng và Hội An đánh lên, hay quân của Nguyễn Thân từ Quảng Ngãi đánh ra 'Tân tỉnh Trung Lộc còn là một địa bản thuận lợi về mọi mặt cho cuộc kháng chiến: núi non hiểm trở, cây cối rậm rạp, hảo sâu vực thẳm, giao thông. thủy bộ đều dễ đăng, có tính lộ G11 chay từ Hương Anlên, có pha Tin ‘An xuyéa Phi Bình đến đường 16, nối liền với đường chiến lược 14 và dãy “Trường Sơn hùng vĩ, đường thủy xuôi theo dòng sông Thu Bồn đến Hòn Kem Đá Dũng qua Nông Sơn, Duy Xuyên, Điện Bản về Cửa Dai. Ngoài ra, y còn là một vùng trung du, đất đại màu mỡ, im bên dòng sông Thu Bồn, thuận lợi cho việc tự cung tự cấp lương thực cho lực lượng nỗi dậy.
Mặc dù chỉ lồn tại trong một thời gian ngắn chưa đầy bai năm 1885- 1887, Tan tinh Trung Lộc là căn cứ quân sự quan trọng nhất của Nghĩa hội “Quảng Nam, đầy đủ thiết chế của một quốc gia đến độ tên Baille gọi dấy là “nước Quảng Nai Trong thời gian Nghĩa hội hoạt đông, người Pháp đang xây dựng con đường chiến lược tử Huế qua đèo Hãi Vân tới Đà Nẵng trong kế hoạch khai thác thuộc địa cũng như để đàn áp các lực lượng nỗi dây. Đích thân Tổng tư lệnh lực lượng quân Pháp ở Bắc và Trung Kỳ De Courcy đã ra lệnh cho tướng, Prud'Homme diéu déng công bình và buộc vua Đồng Khánh phải huy động. phu dịch để làm đường.000 dân phu Quảng Nam và Thừa Thiên Huế được huy động thí công con đường này, nhiều người bỏ trốn và thiệt mạng vì chế độ lao động quá khắc nghiệt.