Tổng quan nghiên cứu

Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX ghi nhận những bước chuyển mình sâu sắc dưới tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội đầy biến động. Trong dòng chảy đó, hiện tượng văn học Tú Quỳ (Huỳnh Quỳ, 1828 – 1926) tại vùng đất xứ Quảng nổi lên như một tiếng nói độc đáo, kết hợp giữa tinh thần trào lộng dân gian và cốt cách cương trực của tầng lớp trí thức nho học. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ toàn diện diện mạo, giá trị tư tưởng và đặc trưng nghệ thuật trong di sản trước tác của tác giả, vốn trong suốt hơn 100 năm chủ yếu tồn tại dưới hình thức truyền miệng và chịu nhiều định kiến lịch sử phức tạp.

Mục tiêu cụ thể của công trình là giải mã hệ thống 88 tác phẩm đã được văn bản hóa cùng hơn 400 đơn vị tác phẩm truyền khẩu, từ đó thẩm định công bằng những đóng góp của Tú Quỳ cho nền văn học dân tộc. Phạm vi khảo sát tập trung vào không gian văn hóa Quảng Nam và dải duyên hải miền Trung từ Quảng Nam đến Bình Thuận trong khung thời gian lịch sử từ năm 1885 đến đầu thế kỷ XX. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện ở việc nâng tỷ lệ giải mã chuẩn xác các tầng nghĩa văn bản học lên 100%, phục dựng chân thực chân dung một kiện tướng của nền văn học quần chúng, đồng thời đóng góp nguồn tư liệu xác thực cho công tác nghiên cứu văn học sử địa phương và văn học trung cận đại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của lý thuyết thi pháp học văn học trung đại kết hợp với lý thuyết xã hội học văn học và văn hóa học dân gian. Mô hình phân tích tập trung khảo sát mối quan hệ biện chứng giữa ba trục: bối cảnh lịch sử xã hội, cá tính sáng tạo của tác giả và môi trường tiếp nhận của quần chúng lao động. Ba khái niệm then chốt được vận dụng xuyên suốt bao gồm: chất dân gian trong văn học thành văn, thể loại văn học chức năng ứng tác và tính cách văn hóa địa phương xứ Quảng. Việc đặt hiện tượng Tú Quỳ vào tọa độ giao thoa văn hóa giữa truyền thống Nho giáo và dòng chảy văn hóa bình dân giúp nhận diện chuẩn xác giá trị nội dung cùng cấu trúc nghệ thuật của tác phẩm.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được xây dựng từ tập hợp 88 tác phẩm tiêu biểu được tuyển chọn từ công trình biên khảo của soạn giả Thy Hảo Trương Duy Hy công bố năm 2008, phối hợp cùng các tư liệu điền dã văn học dân gian thu thập tại các huyện Duy Xuyên, Đại Lộc thuộc tỉnh Quảng Nam. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu hệ thống kết hợp khảo sát văn bản chuyên sâu nhằm bao quát toàn bộ 5 nhóm thể loại chính: 43 bài thơ Đường luật, 30 câu đối và chữ liễn, 13 bài phú và văn tế, 1 bài vè 126 câu, cùng 1 bức văn thư tín đặc sắc.

Quy trình phân tích kết hợp chặt chẽ ba phương pháp: thống kê phân loại để định lượng tần suất xuất hiện của các thủ pháp chơi chữ và địa danh; phương pháp phân tích - tổng hợp để giải mã chiều sâu tư tưởng nhân đạo; và phương pháp so sánh đối chiếu liên văn bản với các tác giả cùng thời như Nguyễn Khuyến, Tú Xương và Phan Châu Trinh. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu được thực hiện đồng bộ trong giai đoạn 2011 – 2013. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này đảm bảo tính khách quan khoa học, giúp khắc phục triệt để tính phân tán của văn bản truyền khẩu và làm nổi bật nét khu biệt về thi pháp của tác giả.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu đã làm rõ 4 luận điểm cốt lõi cấu thành diện mạo thơ văn Tú Quỳ:

Thứ nhất, tác phẩm là tấm gương phản ánh chân thực lịch sử và văn hóa phong thổ xứ Quảng. Trong phong trào Nghĩa hội Quảng Nam (1885 – 1887), qua tác phẩm Vè đánh đạo và câu đối trận Đồng Gia Cốc, tác giả dũng cảm vạch trần những sai lầm chiến thuật làm tổn thất hơn 40 nghĩa quân vô tội, đồng thời phê phán những kẻ cơ hội mượn danh nghĩa chống xâm lăng để trục lợi. Trong phong trào Duy Tân năm 1904 do Phan Châu Trinh khởi xướng, thi sĩ đã nhiệt thành ủng hộ cuộc vận động cắt tóc ngắn và chấn hưng dân trí bằng những vần thơ ngũ ngôn, thất ngôn đầy sức thuyết phục.

Thứ hai, mảng văn học chức năng chiếm tỷ trọng lớn với 44 tác phẩm (tương đương 50% tổng số trước tác), đưa Tú Quỳ trở thành một hiện tượng hiếm có. Các bài văn tế như Văn tế Bá Bảy, Văn tế thợ rèn, Văn tế Chánh Năm và bức thư Thư gửi chồng đi vong đã vượt thoát khỏi tính chất nghi lễ thông thường để trở thành kiệt tác văn chương lay động lòng người, chan chứa tinh thần nhân đạo sâu sắc đối với số phận người lao động nghèo.

Thứ ba, nghệ thuật trào phúng sắc bén nhằm thẳng vào thói mê tín dị đoan và tệ cường hào ác bá. Tác phẩm Phú ông Mốc gồm 1 vần trắc với 2 vế đối chỉnh chu đã vạch trần thủ đoạn trục lợi của nhóm hương hào địa phương quanh khúc gỗ mục, trong khi bài Văn tế thầy phù thủy bóc trần toàn bộ các xảo thuật lừa bịp nhằm thu lợi hàng trăm đồng tiền cúng của người dân nhẹ dạ.

Thứ tư, hệ thống ngôn từ mang đậm sắc thái địa phương với 30 câu đối và hàng chục bài thơ Nôm vận dụng thuần thục 5 phương thức chơi chữ dân gian: dùng từ đồng âm - dị nghĩa, đảo trật tự cú pháp, nhại âm, nói lái và tận dụng triệt để hệ thống địa danh sông Thu Bồn, gành Móm, cồn Con.

Thảo luận kết quả

Khi so sánh với Tú Xương (phản ánh hiện thực đô thị buổi giao thời) và Nguyễn Khuyến (thể hiện nỗi u hoài của tầng lớp nhà nho ẩn dật nơi thôn dã đồng bằng Bắc Bộ), Tú Quỳ chọn cho mình một hướng đi khác biệt: tiếng cười của ông gắn liền với đời sống thực tế của cư dân trung du miền Trung. Tiếng cười ấy vừa mang nét thâm thúy sâu cay của miền Bắc, vừa có sự bộc trực, phóng khoáng của miền Nam, đậm đặc tính cách cương trực hay cãi và yêu chuộng lẽ phải của người xứ Quảng.

Dữ liệu thể loại nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua một biểu đồ tròn cơ cấu tác phẩm: Thơ Đường luật chiếm 48,9%, Câu đối và chữ liễn chiếm 34,1%, Phú và văn tế chiếm 14,8%, Thể loại vè và thư tín chiếm 2,2%. Đồng thời, một bảng ma trận so sánh ba cực phong cách trào phúng thế kỷ XIX sẽ làm nổi bật vị thế cầu nối văn học đặc sắc của Tú Quỳ trong tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phát huy bền vững các giá trị tư tưởng và nghệ thuật của tác giả, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Quảng Nam cần chủ trì đề án số hóa và sưu tầm thực địa nhằm bảo tồn toàn bộ hơn 400 đơn vị dị bản truyền miệng của tác giả tại các huyện Đại Lộc, Duy Xuyên, Quế Sơn và Tiên Phước, hoàn thành mục tiêu xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa 100% trong giai đoạn 2026 – 2028.

Thứ hai, Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Nam cùng Sở Giáo dục và Đào tạo thành phố Đà Nẵng cần phối hợp xây dựng chuyên đề văn học địa phương, đưa tối thiểu 2 tác phẩm tiêu biểu như Cồn Con và Phú ông Mốc vào chương trình giảng dạy Ngữ văn cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông từ năm học 2026 – 2027.

Thứ ba, Nhà xuất bản Đà Nẵng phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức hiệu đính, chú giải ngữ âm địa phương và tái bản bộ tuyển tập Thơ văn Tú Quỳ toàn tập với quy mô phát hành tối thiểu 2.000 bản in đạt chuẩn học thuật trước quý 4 năm 2027.

Thứ tư, Ủy ban nhân dân huyện Đại Lộc xây dựng kế hoạch tôn tạo di tích nhà lưu niệm và không gian diễn xướng văn hóa dân gian Tú Quỳ tại xã Đại Thắng, hoàn thành trước năm 2029 nhằm thu hút lượng khách tham quan nghiên cứu văn hóa tăng từ 25% đến 30% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Văn học Việt Nam: Cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận tác gia văn học từ góc nhìn văn hóa học và thi pháp học địa phương.
  2. Giáo viên Ngữ văn tại các trường trung học phổ thông khu vực miền Trung: Cung cấp nguồn ngữ liệu chính xác, các phân tích mẫu và tư liệu giảng dạy thực tế cho học phần giáo dục địa phương.
  3. Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa dân gian và bảo tồn di sản: Tìm thấy nguồn chứng cứ lịch sử sống động về phong trào Cần Vương, Nghĩa hội Quảng Nam và phong trào Duy Tân qua lăng kính văn học.
  4. Tác giả, biên kịch và nhà sáng tạo nội dung văn hóa truyền thống: Khai thác kho tàng giai thoại hóm hỉnh, nghệ thuật chơi chữ nói lái độc đáo và ngôn ngữ đậm chất tiếu lâm xứ Quảng phục vụ các sản phẩm nghệ thuật đương đại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Điểm khác biệt lớn nhất giữa nghệ thuật trào phúng của Tú Quỳ so với Tú Xương là gì? Tú Xương tập trung đả kích cảnh suy tàn của Nho học và sự nhố nhăng nơi thành thị buổi giao thời với tâm trạng đau đớn, cay đắng. Ngược lại, Tú Quỳ khai thác đề tài nông thôn, chĩa mũi nhọn vào thói mê tín dị đoan và quan lại tham nhũng nơi thôn xóm bằng tiếng cười dân dã, hào sảng, đậm chất tiếu lâm bình dân xứ Quảng.

  2. Tại sao thơ văn chức năng như văn tế và câu đối của tác giả lại có sức sống lâu bền? Dù viết theo đơn đặt hàng phục vụ đám tang hoặc mừng nhà mới, tác phẩm của ông không phải là văn chương thương vay khóc mướn. Tác giả đã truyền vào đó cái tình chân thực của người lao động, kết hợp với tài năng ngôn ngữ bậc thầy, biến các văn bản nghi lễ thành tác phẩm nghệ thuật lay động tâm can người đọc.

  3. Thái độ của Tú Quỳ đối với phong trào Nghĩa hội Quảng Nam như thế nào? Ông hết lòng ủng hộ mục tiêu cứu nước của Nghĩa hội ngay từ đầu, nhưng với tính cách thẳng thắn, ông đã làm thơ chỉ trích nghiêm khắc những sai lầm quân sự phiêu lưu và hành vi cơ hội của một số chỉ huy làm hại dân lành. Sự phản kháng này xuất phát từ tinh thần nhân đạo vì dân chứ không mang tính phá hoại phong trào.

  4. Chất dân gian xứ Quảng được biểu hiện rõ nét nhất qua yếu tố nghệ thuật nào? Chất dân gian thể hiện qua việc vận dụng nhuần nhuyễn 5 hình thức chơi chữ truyền thống như nói lái, đảo ngữ, nhại âm, cùng việc đưa hệ thống thổ âm, thổ ngữ và hàng loạt địa danh sông núi địa phương vào thơ Đường luật và văn tế một cách tự nhiên, tạo nên phong vị văn hóa không thể trộn lẫn.

  5. Nguồn văn bản khảo sát trong luận văn có độ tin cậy khoa học ra sao? Luận văn khảo sát trên hệ thống 88 tác phẩm đã được các nhà nghiên cứu thẩm định, đối chiếu qua các ấn bản xuất bản từ năm 1993 đến năm 2008 của nhà nghiên cứu Thy Hảo Trương Duy Hy, kết hợp kiểm chứng qua các tư liệu điền dã dân gian, đảm bảo tính chuẩn xác và độ tin cậy khoa học cao.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện 88 tác phẩm tiêu biểu của Tú Quỳ, khẳng định vị thế xứng đáng của ông như một hiện tượng văn học độc đáo bậc nhất miền Trung cuối thế kỷ XIX.
  • Làm sáng tỏ giá trị hiện thực sắc sảo qua hai sự kiện lịch sử trọng đại: phong trào Nghĩa hội Quảng Nam giai đoạn 1885 – 1887 và phong trào Duy Tân năm 1904.
  • Khẳng định đỉnh cao nghệ thuật của mảng văn học chức năng (chiếm 50% di sản), tiêu biểu là thể loại văn tế và câu đối mang giá trị nhân đạo sâu sắc.
  • Đúc kết hệ thống thi pháp mang đậm bản sắc văn hóa xứ Quảng với nghệ thuật chơi chữ, ngôn ngữ thổ âm và phong cách trào lộng dân gian độc nhất vô nhị.
  • Đề xuất lộ trình 4 bước số hóa, giảng dạy và bảo tồn di sản tác giả giai đoạn 2026 – 2029.

Quý độc giả, nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể tiếp tục khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để làm giàu thêm tư liệu học thuật và ứng dụng hiệu quả vào công tác giảng dạy, bảo tồn di sản văn học dân tộc.