mở đầu cho tập Hoa gạo. Giai đoạn này, thơ ông tràn đầy cảm xúc tươi tắn, hồn hậu mà trong cuộc đời mỗi nhà thơ không dễ gì có. được: 728, Bói Kiều, Con sẽ đưa đường, Có thể nào anh chẳng nghĩ đến em. 'Sau khi hòa bình lập lại, ông tập kết ra Bắc, tích cực hoạt động văn học nghệ thuật và dành nhiều thời gian để đi thực tế sáng tác.
Càng tiếp xúc thực. tẾ, ông cảng đổi mới cách viết và đổi mới cảm xúc. Thời gian này, ông thường viết về đ tài Cách mạng, kháng chiến và hòa bình. Những năm sau này, ông đi thực tế nhiều hơn.
Dường như nơi nào cũng có dấu chân ông, từ miền núi cho đến miễn biển, từ miền ngược đến miền xuôi. Ông đã từng gặt lúa cùng với bà con nông dân, từng xúc than với công nhân vùng mỏ, từng ngủ hằm, sống với công nhân sửa cầu. Ông muốn tân mắt chứng kiến sự tàn ác, dã man của kẻ thù để làm tư liệu đưa vào thơ. Ông thử bút ở nhiều thể loại: thơ 4 chữ, 5 chữ, 6 chữ, 8 chữ, thơ văn xuôi, trường ca.; từ thơ cỗ vũ kháng chiến, xây dựng, đến thơ tình.
Lần lượt các tập thơ ra đời: /lạt giống, Thúy Triêu, Bạch Đằng tráng khúc, Điện Biên Phú trên không.Vào thời gian này, giọng thơ rắn khỏe giống như người ông, đầy nhựa sống, nhiệt huyết nhưng cũng lắm lúc suy tư, tự vấn, suy. ngẫm về chiến tranh, về cuộc đời. Mặc dù trong thơ còn thiên về miêu tả, kể chuyện đời, chuyện người nhưng vẫn nằm chung trong mạch thơ kháng chiến. Từ năm 1981, ông về hưu.
Mặc dù tuổi đã cao nhưng ông vẫn đi khắp. Ông viết tập thơ Giao mùa. Đây là tập thơ viết về “chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam và phía Bắc cùng với những suy nghĩ về cuộc sống và nghệ thuật" 38, tr280]. Tập thơ có những bài rất hay: 4pa Cái, Xem tranh lang hé, Có Bằ Đề.
Và có bài thơ xuất sắc viết về tình yêu: Ra cửa. Tiếp theo la tip the Mai Cả Mau. Đây là tập thơ văn xuôi, miêu tả vẻ đẹp của vùng đất cực Nam Tổ quốc. Những năm sau đó, thơ ông có sự chuyển hướng rõ rệt.
“Thơ ông cũng giống như người đồng hương gid Khương Hữu Dụng, càng lớn tuổi thơ Trinh Đường càng dỗi dao. Nhung tho Khương Hữu Dụng cảng về sau càng tươi trẻ, hồn hậu còn Trinh Đường do. cuộc đời chìm nổi của mình, thơ lúc về già cảng súc tích, trầm lắng hơn nhưng cũng cay đắng hơn” [37, tr. Có lẽ, đó là do cuộc đời của ông gặp nhiều sóng gió.
Những tập thơ ra đời vào thời gian này như Quán iro, Hội hóa trang, Hành trình, Trò chơi phù thế đều mang tâm sự ưu uất. tập thơ của ông, có thể nói, ông là một người yêu thơ, say mê tìm cái mới trong nội dung và cách thể hiện. Song song với hành trình di viét, di tìm thơ của mình, thỉnh thoảng ông còn sáng tác truyện, viết tiểu luận, bình thơ và chân dung văn học. Trong những câu chuyện ông viết vẫn mang hơi thở của những vẫn thơ.
Không khí truyện hiện lên với ấn tượng sâu sắc, để lại ấn tượng khó quên trong lòng độc. Đó là một vùng biển nước xoáy có hung thần mà mỗi năm phải tế thần một sinh mệnh, là hình ảnh những con nai cổ tim sự sống khi gặp tai họa. Những câu chuyện ấy mang tính chất tưởng tượng kỳ ảo, tình tiết truyện cuốn hút người đọc. Đối tượng sáng tác của ông không chỉ dành cho người lớn mà còn dành cho thiếu nhỉ.
Ông viết về những tắm gương vượt khó, vẻ loài vật: ve, chim, cá, voi, gà,. Dường như ông nắm bắt được tâm lý trẻ thơ nên mới có những. hay và phủ hợp đến như vậy, Qua đó, ông hy vọng rằng, những đứa trẻ sẽ thích bởi nội dung trong những tác phẩm ấy mang tính giáo dục cao và có yếu. tổ gây cười “Trinh Đường là người rất ham học hỏi.
Ngoài những gì ông tự học, ông. còn di sục tim tho hay trong quá khứ cũng như thơ của những người cùng thời. Ông đọc lại những tác phẩm của Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương để học hỏi cái hay, cái đẹp và truyền đạt cho bạn thơ của mình. Ông vẽ chân dung.
văn học của những nhà thơ lớp trước hay đương thời như Hàn Mặc Tử, Tế Hanh, Anh Tho, Huy Can.G mdi nhà thơ, ông luôn tìm ở họ một nét nổi bật để nêu lên nhận định của riêng minh. “Với Hàn Mặc Tử, người ông tôn là bậc thầy từ nhỏ, ông có một nhận định sâu sắc: Hàn Mặc Tử tự tạo cho mình một con đường thơ riêng biệt, từ cảnh đến cảm xúc đều lóe lên một thứ ánh sáng la xanh lạnh và huyền hồ như một mặt nước phủ trắng sương” [37, tr. l6] Nói đến Trinh Đường, ta không thể không nói đến thơ dịch và bình thơ 'Về thơ thiếu nhí, trong lời bình ông luôn mang đến cho người đọc niềm vui, sự thích thú, ngộ nghĩnh mà không kém phần sâu sắc. Vốn là người tiếp xúc.
và tiếp thu thơ của các nhà thơ xưa và thơ phương Tây từ nhô nên trong lời bình hay tiểu luận, lời viết đầu sách, ta thấy luôn ông khẳng định vấn đề truyền thống và hiện đại. Theo ông thì phải giữ vững truyền thống, không nên làm nhòa đi bản sắc dân tộc nhưng bên cạnh đó cũng phải thể hiện được tính. hiện đại nếu không sẽ lỗi thời. Bên cạnh việc sáng tác, Trinh Đường là người luôn quan tâm, chăm chút, phát hiện, nâng đỡ, đìu dắt nhiều nhà thơ trẻ thời chống Mỹ và một số.
cây bút mới sau 1975. Ông trải lòng với thơ ít ai có được. Dường như không có tính thành nào là không có dấu chân ông. Ông đi tìm thơ, tìm những người lâm thơ, không kể tuổi để đàm đạo, sưu tầm, khuyến khích, động viên.
Điều ông làm có thể là chiếc cầu nối để các nhà thơ khắp đắt nước làm quen với nhau. Sau hành trình gom nhặt ấy, ông cho ra đời Tuyển tập thơ Những. gương mặt thơ mới - tuyên chọn những tác giả thơ tiêu biểu của thế hệ trẻ trong toàn quốc. Đây là tuyển thơ làm tiền để cho tập Một thế kỹ thơ Vigt mà ông đã đây công biên tập.
Bên cạnh đó, ông tham gia vào việc biên soạn nhiều tập sách có giá trị như: Làm thể nào để có thơ hay, Thơ thể kỷ XX - Tỉnh tuyén va bình. Ông miệt mài sắng tác và mái mé di tim thơ nhưng luôn băn khoăn trăn trở "Làm thé nào để có thơ hay?” Tình yêu và sự lao động hết mình của ông đối với nền thơ Việt đã được. Hội nhà văn Việt Nam đánh giá cao: “Nha thơ đã góp phần vào việc biên tập. hàng ngàn trang thơ và 300 cuốn sách, cũng như góp phần đảo tạo một lớp.
biên tập viên cho ngành Báo chí và xuất ban” [20, tr.67], Càng về sau, tình yêu và niềm đam mê dành cho thơ càng mãnh liệt Hồi còn ở trong căn hộ chật hẹp ở khu tập thể Trung Tự Đống Đa, ông vẫn. đành một phần diện tích để lập “Ngôi đền thơ. Sau này, ông chuyển về Cổ Nhué - một vùng quê ngoại thành Hà Nội để tịnh dưỡng làm việc và sáng tạo. Trước cổng nhà có treo tắm biển để ba chữ “La - Vân - Hiên”.
Nhìn ba chứ Ấy, ta biết rằng ông đi đến đâu cũng mang theo quê nhà bởi La Vân chính là tên gọi xưa của làng ông Những tháng ngày nghỉ hưu, ông thành lập nhóm bạn thơ dé đĩ thực tế đến lâm trường, đơn vị quân đội và nhiều nơi khác. Trong mỗi chuyến đi, Trinh Đường bao giờ cũng thu thập được những thông tin, có những bải viết về chuyến thâm nhập thực tế đó. Và mọi người trong nhóm thường gọi ông là “Trinh đoàn trưởng” bởi lẽ vài chục chuyển đi mà nhóm đã tổ chức đều do. Trinh Đường khởi xướng, Khoảng mười năm cuối đời, ông dốc hết sức cho việc sưu tim tho hay, phát hiện những tác giá mới, chủ biên bộ sách Tuyén thor Vigt Nam.
Trinh Đường di tim tho của người khác như người đi tìm vàng. Ông luôn day dứt vì sợ mình sẽ bỏ sót những hạt vàng của thơ. Ông luôn kỳ vọng thế hệ đàn em sẽ nối tiếp, phát triển nền thơ lên một bước, rực rỡ hơn thế hệ của ông với sự. cách tân thơ mà ông hy sinh trọn đời mình.
“Từ những gì đã nói ở trên, có thể khẳng định rằng, trong dòng chảy văn học ít có nhà thơ nào yêu thơ và sống hết mình về thơ như Trinh Đường. không phải là một người có bản năng thơ và tình yêu mãnh liệt đối với thơ ca thì khó lòng sống trọn đời với nghệ thuật như vậy. Thành tựu sáng tác 'Hơn nửa thế kỷ cầm bút, Trinh Đường đã để lại cho đời một số lượng. tác phẩm khá lớn bao gồm thơ, văn xuôi, lý luận phê bình.
"Thống kê những tác phẩm đã xuất bản: a. Tho ~ Hoa gạo, NXB Văn học 1960 - Hat giống, NXB Văn học 1964 - Thủy triều, NXB Văn học 1968 ~ Bạch Đẳng tráng khúc (Trường ca), Sở văn hóa Hà Nam 1964. ~ Về Thanh, Sở Văn hóa Thanh Hóa 1968 ~ Giao mùa, NXB Hội nhà văn 1980 ~ Quán tro, NXB Lao động 1984 ~ Hội hóa trang, NXB Thanh niên 1990 ~ Cả Mau (Trường ca), NXB Mũi Cả Mau 1992 ~ Hành trình, NXB Thanh niên 1995 ~ Trò chơi phủ thể, NXB Thanh niên 1997 ~ Điện Biên Phủ trên không, NXB Đà Nẵng 1997 %. Văn xuôi ~ Ngày và đêm một lứa đôi, NXB Đà Nẵng 1988 ~ Cây thiêng - truyện thiếu nhỉ e Lý luận phê bình — bién soạn: ~ Ngày hội thơ, NXB Văn học 1994 - Những gương mặt thơ mới (Tập 1,2), NXB Thanh Niên 1994 ~ Một thế ky thơ Việt (tập 1), NXB Văn hóa 1995 ~ Thơ và tuổi học trò, NXB Lao động 1994.2 QUAN NIEM VE NGHE THUAT CUA TRINH DUONG.
Quan nigm vé nha tho: Mỗi nhà thơ đều có quan niệm riêng của mình về nghệ thuật, đặc biệt là quan niệm vẻ thơ. Trinh Đường, với tư cách một nhà thơ hơn nửa thế kỷ cằm bút, cho rằng “Nhà văn phải là nhà yêu nước, dân tộc nồng nản, biết quý trọng truyền thống, tiếp thu có chọn lọc tỉnh hoa nhân loại, chống cũ mòn nhưng cũng quyết chống lai căng, mắt gốc. Nhà văn phải là nhà lập ngôn. Mọi lời viết ra phải hợp với đạo lý làm người, phải là mẫu mực” [3, tr.
"Thời kỳ trước 1945, những nhà văn như Vũ Trọng Phụng, Nam Cao. cũng nêu lên ý kiến của mình về sáng tác. Có điều là, đẳng sau những gì họ.