Chương 1 : Khái Hưng - một gương mặt tiêu biểu của Tự lực văn đoàn Chương này, chúng tôi khái quát sơ lược về cuộc đời và sự nghiệp của. Từ đó, tìm hiểu những nhân tố nào đã ảnh hưởng đến sáng tác của ông cũng như vị trí của ông đối với Tự lực văn đoàn nói riêng, với văn học Việt Nam nói chung, Vấn đề nghiên cứu tiểu thuyết Khái Hưng, những. thành công và thiếu sót, tìm hướng đi mới thông qua việc tìm hiểu những. công trình nghiên cứu trước đây.
Chương 2 : Các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Khái Hưng. Nội dung chương hai trình bày về các kiểu nhân vật trong tiểu thuyết Khái Hưng. Nhân vật được phân loại ở các tuyến: nhân vật luận đẻ, nhân vật phản diện — thủ cựu và nhân vật tích cực - tiến bộ, tìm hiểu tư tưởng nhà văn. muốn gửi gắm qua hệ thống nhân vật.
Ở mỗi tuyến nhân vật, chúng tôi sẽ hệ thống lại các loại nhân vật và đánh giá những mặt thành công và hạn chế của Khái Hưng trong nghệ thuật xây dựng nhân vật. “Chương 3 : Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Khái Hưng. Nội dung chương ba trình bày những thủ pháp nghệ thuật đặc sắc được Khái Hưng sử dụng để xây dựng nhân vật. Trong đó, bút pháp miêu tả, tổ chức hệ thống các nhân vật và nghệ thuật xây dựng nhân vật qua ngôn ngữ đã tạo thành công cho tiểu thuyết Khái Hưng trong việc khắc họa thế giới nhân Vật của ông, CHUONG 1 KHAI HUN - MOT GUONG MAT TIEU BIEU CUA TU LUC VAN DOAN 1.
CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CUA KHALI HUNG 1. Tiểu sử Khái Hưng Quê hương của Khái Hưng là làng Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Duong, nay thuộc thành phố Hải Phòng. Đây là một làng nỗi tiếng ở ién Bắc với truyền thống hiếu học và trọng văn hoá ngàn đời. Người ta tự hào về Cổ Am bởi những người con đỗ.
đạt trong thời kỳ còn chế độ khoa cử Hán học còn thịnh, làm rạng danh quê hương. Vì vậy người dân ở đây luôn tu hao và tôn vinh những người học giỏi, đỗ đạt. Bởi vậy, dấu ấn truyền thống này luôn được thể hiện trong tác phẩm Khái Hưng. Ông luôn đề cao người có học, luôn để cao văn hoá.
Cha của Khái Hưng là cụ Trần Mỹ (vốn xuất thân trong gia đình dòng doi khoa bảng), một cử nhân Hán học, từng làm tuần phủ. Cụ thích làm thơ và đã sáng tác tập thơ Cổ phẩn lai khúc, được đăng báo Nam. Cụ Trần Mỹ có tới năm người vợ, nên rất đông con. Khái Hưng là con vợ cả và là anh trai nhà văn Trần Tiêu.
Cụ khá thương con. Cụ đã phải bán cả ruộng vườn, đồ cổ, trả nợ cho Khái Hưng khi ông buôn dầu thất bại ở Ninh Giang. Sau này về hưu, cụ trở lại sống ở quê hương Cổ Am, ở nhà đọc kinh Phật và làm thơ như một thú vui tao nhã về giả. Cha vợ của Khái Hưng là cụ Lê Văn Đính.
Cụ cũng xuất thân gia đình khoa bảng, cũng là cử nhân Hán học, và từng làm tuần phủ, tổng đốc, thượng thư. Cụ Đính quê ở làng Dịch Diệp, cũng là làng văn hoá nổi tiếng với nhiều người đỗ đạt, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định. Cụ Lê Văn Đính chỉ có một người vợ, nhưng cũng rất đông con (sáu gái, n t trai). Nam trong số sáu chàng rễ của cụ.
có bằng tú tài Tây. Cậu ấm út có bằng cử nhân Pháp. Sau cách mạng tháng Tám đã từng làm phó chủ tịch huyện Trực Ninh. Như vậy, cả thân phụ và nhạc phụ của Khái Hưng đều làm quan, làm công chức cho Pháp, nhưng có sốc văn hoá cũ và có lòng yêu nước, tôn trọng truyền thống văn hóa dân tộc, không phải là bọn tay sai bán nước cầu vinh.
Vì vậy, tuy làm việc cho Pháp nhưng họ không được tin dùng và trong họ luôn tồn tại tư tưởng ghét Tây. Khái Hưng đã sống trong môi trường trưởng giả, nhưng ông cũng có điều kiện tiếp xúc trực tiếp với tư tưởng, ý thức, nếp sống và văn hoá phương Tây. Như vậy, ông vừa trải nghiệm cuộc sống đại gia đình với biết bao hủ tục, luật lệ phiền toái, lạc hậu, lại vừa chịu ảnh hưởng những giá trị văn hóa gia đình, lại được tiếp xúc luồng tư tưởng văn hó mới mẻ phương Tây đã tạo nên một con người cấp tiến mỸ tư tưởng vẫn còn in nét truyền thống văn hóa phương. Điều này để lại dấu ấn sâu sắc trong các sngs tác của ông sau này.
Khái Hưng tên thật là Trằn Dư, sinh năm 1897 (theo gia phả họ Trần ở làng Cổ Am). Khi buôn dầu ở Ninh Giang ông mới đổi thành Trần Khánh Giw. Ông có khá nhiều bút danh, trong đó có: Ban Than (Ban Than hay Tran Khánh Giư đều là tên của Nhân Huệ Vương, một danh tướng về đời vua Trần Nhân Tôn, có công lớn trong bình Nguyên sau bị cách chức ra Chí Linh đồn củi đốt than). Khái Hưng là bút danh chính, xếp từ chữ Khánh Giư.
Ngoài ra ‘6ng con sir dung cac but danh nhu Nhat Dao Cao, Ching Lan Than, To Mo va Nhị Linh. Trong Bản về tiéu thuyết Khái Hương, Ngô Văn Thư đã khẳng định bút danh Nhị Linh là của Khái Hưng: “Một số nhà nghiên cứu ở miền Nam trước đây (như Thanh Lãng, Phạm Thể Ngũ.) cho rằng Nhị Linh cũng là bút danh của Nguyễn Tường Tam, nhưng theo Phan Cự Đệ, Lê Thị Đức Hạnh, Tú Mỡ.thì Nhị Linh chính là Trần Khánh Giư. Phạm Ngọc Phúc (tức Vụ Gia), trong luận văn cao học: Những nhận định bước đầu về tiểu thuyết của Khái “Hưng, cho rằng phải chăng là do sự phân công của nhóm hay vì Khái Hưng tâm phục con người Nhất Linh mà ông đã lấy bút danh là Nhị Linh (cùng với các bút danh Nhất Linh, Tứ Linh, Ngũ Linh của nhóm). Điều đó cũng có thể lắm, song chắc chắn Khái Hưng là nhà văn chủ chốt, là nhân vật Nhị Linh của.
Tự lực văn đoàn. Thậm chí, trong sáng tạo văn chương nhiều người còn đánh giá ông cao hơn cả Nhất Linh [78, tr. Khái Hưng học chữ Nho từ nhỏ, đến năm 12 tuổi mới theo Tây học. Ông học trường Albert Sarraut, từng nỗi tiếng là giỏi Pháp văn và tinh nghịch.
từng nhận nhiều giải thưởng về dịch thuật và vẽ tranh khi ngồi ghế nhà trường. Năm 1927, sau khi đậu tú tài Pháp phần một (ban triết học), Khái Hưng không tiếp tục học lên để ra làm quan như đa số bạn học cùng thời mà bỏ đi buôn dầu tại Ninh Giang. Vì tính phóng khoáng không hợp với một người kinh đoanh , nha van that bại sau ba năm kinh doanh nghệ sĩ. Ninh Giang lên Hà Nội day học tại trường tư thục Thăng Long khá nỗi tiếng lúc bấy giờ.
Trong thời gian này, Khái Hưng còn làm chủ bút và viết một số. bài đăng trên Phong hoá của Phạm Hữu Ninh từ số 1 đến số 13. Nhỉ bài nghị luận đăng Văn học tạp chí là sản phẩm của ông. Cũng trong thời gian này, ở quê nhà xảy ra sự kiện mà đã ảnh hưởng lớn đến tư tưởng của Khái Hưng.
Nhân cuộc khởi nghĩa Yên Bái của Nguyễn Thái Học, dân làng Cổ Am. nỗi lên biểu tình giết chết tên tri huyện Vĩnh Báo là Hoàng Gia Nô (con trai Hoang Cao Khai). Trước sự việc này thực dân Pháp đã dan áp, sát hại người đã man. Gia đình Khái Hưng cũng có nhiễu người liên can nên cũng không thoát khỏi tai họa này.
Anh cả của Khái Hưng, ông Trần Xuân (từng làm tham tá Nam Định) bị Pháp bắt, tra hỏi đã uống thuốc ngủ tự vẫn. Khi thực dân Pháp đem máy bay, lính đến tàn sát nhân dân làng Cổ Am, cụ Trần Mỹ đã lên tiếng bảo vệ dân. Năm 1931, Khái Hưng lập gia đình và ông. lên Phú Thọ buôn sơn.
Những cảnh và người vùng này sau được mô tả rất nhiều trong tác phẩm của nhà văn. Vo cia Khai Hung tên thật là Lê Thị Hoà, biệt hiệu là Nhã Khanh. tài tháo vát của bà mà Khái Hưng khỏi phải lo nại sinh kể, để yên tâm. sáng tác văn chương.
Điều này được chính Trần Khánh Triệu trong bài Øø tdi đã khẳng định. Cũng tong thời gian dạy học ở trường Thăng Long, Khái Hưng đã gặp Nhất Linh. Vì cùng chung một quan niệm về văn chương, xã hội nên hai người nhanh chóng trở thành đôi bạn trì kí, thân thiết ngay trong thời gian ngắn. Tình cảm đó cảng trở nên thân thiết khi Nhất Linh cho một người con làm con nuôi Khái Hưng.
Cùng với Nhất Linh, Khái Hưng đã tham gia ban biên tập báo Phong hoá rồi ở trong Tự lực văn đoàn, và trở thành nhà văn chủ chốt, có đóng góp lớn cho văn đoàn Tự lực. Năm 1939, do biến chuyển của thời , Đại chiến thế giới lần thứ hai bùng nỗ, nhóm Tự lực văn đoàn nghiêng về hoạt động chính trị. Do tham gia Đảng Đại Việt dân chính thân Nhật nên 'Hưng bị chính quyền thực dân Pháp bắt giam. Điều này phần nào lên tiếng cho tỉnh thần yêu nước, bai Tây của Khai Humg.
Ban đầu ông bi giam tại Sở Liêm phóng, sau vài ba tháng thì bị đưa đi trại An Trí ở Vụ Bản. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp tháng 3 năm 1945, Khái Hưng được trả tự do. Khái Hưng tham gia vào phong trảo này là do tình bạn chứ không phải là có tham vọng chính trị. Trần Khánh Triệu kẻ: " Theo lời mẹ tôi bản chất ba tôi là con người nghệ sĩ, nhưng về sau tham gia hoạt động chính trị cũng chỉ là thấy anh em làm, ba tôi cũng tha thiết muốn làm với anh em.
Rồi đến năm 1945, Khái Hưng nhận viết cho tờ Việt Nam, tờ Chính ngi cũng chỉ vì "anh Tam, anh Long đã làm chả nhế h lại xa anh em"[84]. Con người của Khái Hưng là con người của văn chương, của những tư tưởng lăng mạn chứ không phải con người của hành động, của thực tiễn làm chính trị. Khái Hưng mắt năm 1947 ở Nam Định”. Theo ông Nguyễn Tường Triệu, con nuôi Khái Hưng, thì Khái Hưng mắt tích sau Tết Đinh Hợi (22/1/1947).
Văn tài của Khái Hưng. không may tắt sớm trên nền trời văn học Việt Nam. Cái chết của ông đã để lại nhiều dấu hỏi cho những nhà nghiên cứu và cho đến nay vẫn chưa ngã ngũ.