Luận văn: Phân tích đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh - Phan Thị Thanh

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu xã hội và nhân văn đặc điểm nghệ thuật thơ tế hanh, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất giải pháp cải thiện thực tiễn.

Chuyên ngành

Khoa Học Xã Hội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn
104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận văn về đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh

Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn về đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh là một công trình nghiên cứu hệ thống. Nó đi sâu phân tích hành trình sáng tạo và những đóng góp độc đáo của Tế Hanh cho nền thơ ca hiện đại Việt Nam. Tế Hanh, được xem là "đại biểu cuối cùng trong phong trào Thơ mới", đã để lại một di sản văn học phong phú. Các tác phẩm của ông không chỉ quen thuộc trong chương trình giảng dạy mà còn sống mãi trong lòng nhiều thế hệ độc giả. Việc nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh không chỉ khẳng định vị trí của nhà thơ mà còn khám phá những giá trị thẩm mỹ sâu sắc. Luận văn tập trung vào ba phương diện chính: hành trình sáng tạo, nét độc đáo của thế giới nghệ thuật, và các phương thức thể hiện đặc sắc. Qua đó, công trình làm rõ những điểm sáng, nét nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Tế Hanh, từ ngôn từ, giọng điệu đến cách tạo lập tứ thơ. Phân tích này dựa trên toàn bộ tác phẩm của ông, kết hợp với các công trình phê bình uy tín, nhằm mang đến một cái nhìn toàn diện và hệ thống.

1.1. Lý do và mục tiêu nghiên cứu nghệ thuật thơ Tế Hanh

Việc lựa chọn đề tài “Đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh” xuất phát từ vị trí quan trọng của ông trong nền thơ hiện đại Việt Nam. Ngay từ khi xuất hiện, thơ Tế Hanh đã thu hút sự chú ý của các nhà phê bình lớn như Hoài Thanh. Các tác phẩm như Quê hương, Nhớ con sông quê hương đã trở nên quen thuộc, chinh phục người đọc bằng một hồn thơ trong trẻo, hồn hậu và dạt dào cảm xúc. Mục tiêu chính của nghiên cứu là tiếp tục khám phá và giải mã thế giới nghệ thuật thơ của một tác giả lớn. Công trình hướng đến việc hệ thống hóa các phương diện nghệ thuật nổi bật, từ ngôn ngữ, giọng điệu đến các thủ pháp tu từ. Qua đó, luận văn góp phần khẳng định những thành tựu nghệ thuật đặc sắc của Tế Hanh, đồng thời cung cấp tài liệu tham khảo giá trị cho công tác học tập và giảng dạy văn học trong nhà trường, làm rõ hơn những đóng góp của ông cho phong trào Thơ mới và tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc.

1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu và những khoảng trống học thuật

Lịch sử nghiên cứu thơ Tế Hanh khá phong phú, với nhiều bài viết, công trình của các nhà phê bình tên tuổi như Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Chế Lan Viên. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã nhận xét: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm... sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết”. Các nhà nghiên cứu sau này như Hà Minh Đức, Mã Giang Lân cũng thống nhất về một phong cách thơ giản dị, trong sáng và đậm tình đất nước. Tuy nhiên, các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào nội dung tư tưởng, cảm hứng về quê hương. Vẫn còn những khoảng trống trong việc nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện các đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh trên phương diện hình thức biểu hiện. Luận văn này kế thừa thành tựu của người đi trước, đồng thời tập trung làm rõ những nét đặc sắc trong việc tạo lập tứ thơ, sử dụng ngôn từ và các thủ pháp nghệ thuật, mang đến một cái nhìn sâu hơn về cá tính sáng tạo của nhà thơ.

II. Khám phá hành trình sáng tạo và vị trí thơ Tế Hanh

Hành trình sáng tạo của Tế Hanh trải qua nhiều giai đoạn, phản ánh những biến chuyển của lịch sử và đời sống cá nhân. Từ một nhà thơ trẻ trong phong trào Thơ Mới đến một cây bút trưởng thành trong hai cuộc kháng chiến, thơ ông luôn giữ được sự chân thành và một giọng điệu riêng. Vị trí của Tế Hanh trong nền thơ hiện đại được khẳng định không chỉ qua những tác phẩm xuất sắc mà còn qua sự bền bỉ trong lao động nghệ thuật. Ông là một mắt xích quan trọng, nối liền dòng chảy lãng mạn của Thơ Mới với dòng thơ hiện thực cách mạng. Phân tích hành trình sáng tạo thơ ca của Tế Hanh giúp nhận diện sự vận động trong tư tưởng và phong cách, từ cái tôi cá nhân đến cái ta cộng đồng, nhưng luôn nhất quán ở một tâm hồn đa cảm, giàu tình yêu thương với quê hương, đất nước và con người. Các giai đoạn sáng tác của ông, từ Nghẹn ngào đến Hai nửa yêu thương, Bài ca sự sống, đều ghi lại những dấu ấn nghệ thuật riêng biệt, góp phần định hình một phong cách Tế Hanh độc đáo.

2.1. Tế Hanh trong phong trào Thơ Mới 1932 1945

Tế Hanh bước vào làng thơ khá muộn so với các tên tuổi khác nhưng nhanh chóng khẳng định được vị trí của mình. Tập thơ Nghẹn ngào (1939) được Tự lực văn đoàn trao giải khuyến khích. Hoài Thanh và Hoài Chân đã trân trọng giới thiệu ông trong Thi nhân Việt Nam như một hồn thơ tinh tế, có khả năng “nghe thấy cả những điều không hình sắc, không thanh âm”. Khác với nhiều nhà Thơ Mới chìm đắm trong cái tôi cô đơn, bi lụy, Tế Hanh tìm về với những gì gần gũi nhất: quê hương. Bài thơ Quê hương được xem là một hiện tượng, lần đầu tiên đưa vào Thơ Mới khúc ca lao động khỏe khoắn, đẫm vị mặn mòi của biển cả. Ông đã góp cho thơ lãng mạn một luồng gió trong trẻo, hồn nhiên, gắn bó với đời sống thực tại. Dù vẫn mang nỗi buồn chung của thời đại, nỗi buồn trong thơ ông là “cái buồn trong sáng của một tâm hồn đáng quý”.

2.2. Sự chuyển biến sau Cách mạng và đóng góp cho dòng thơ quê hương

Sau Cách mạng tháng Tám, thơ Tế Hanh có một bước chuyển mình lớn. Cái tôi trữ tình cá nhân hòa vào cái ta chung của cộng đồng. Đất nước bị chia cắt đã trở thành nguồn cảm hứng bao trùm, tạo nên những thành công lớn nhất trong sự nghiệp của ông với các tập thơ như Lòng miền Nam, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương. Nỗi nhớ quê hương trở thành chủ đề thường trực, da diết. Các bài thơ Nhớ con sông quê hương, Chiêm bao đạt đến độ chín muồi về nghệ thuật, thể hiện sự hòa quyện nhuần nhuyễn giữa tình cảm riêng tư và tình yêu đất nước. Tế Hanh được xem là một trong những nhà thơ viết về đề tài quê hương thành công nhất. Thơ ông không chỉ là tiếng lòng của người con xa xứ mà còn là bản “biên niên sử” bằng thơ ghi lại nỗi đau và khát vọng thống nhất của cả dân tộc.

III. Giải mã thế giới nghệ thuật thơ Tế Hanh qua hình tượng

Thế giới nghệ thuật trong thơ Tế Hanh được xây dựng từ những hình tượng gần gũi, bình dị nhưng mang sức ám ảnh sâu sắc. Trung tâm của thế giới ấy là “gương mặt quê hương” với những nét đặc trưng không thể trộn lẫn. Quê hương trong thơ ông không phải là một khái niệm trừu tượng mà hiện lên cụ thể qua hình ảnh làng chài, con sông, bến đỗ, và cả vị mặn mòi của biển cả. Những hình tượng này trở đi trở lại, tạo thành một hệ thống biểu tượng nhất quán, phản chiếu một tâm hồn luôn hướng về cội nguồn. Khai thác đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh qua các hình tượng chủ đạo cho thấy khả năng quan sát tinh tế và một trí tưởng tượng phong phú. Ông không chỉ tái hiện hiện thực mà còn thổi hồn vào cảnh vật, khiến chúng cất lên tiếng nói của tình cảm. Đây chính là một trong những phương diện quan trọng làm nên sức sống lâu bền cho thơ Tế Hanh, tạo ra sự đồng cảm sâu sắc nơi người đọc.

3.1. Hình bóng làng quê và nỗi nhớ da diết trong thơ

Hình bóng làng quê là nguồn mạch chính chảy dạt dào trong cả đời thơ Tế Hanh. Ông tự nhận: “Thơ tôi được hình thành từ 3 yếu tố: tuổi trẻ, quê hương và tình yêu. Có lẽ, quê hương là yếu tố thắm sâu vào tôi nhất”. Quê hương hiện lên qua những hình ảnh cụ thể: làng chài với “dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá”, cánh buồm giương lên như “mảnh hồn làng”. Ngay cả những chi tiết nhỏ như “cái mùi nồng mặn quá” cũng được khắc họa đầy ám ảnh. Nỗi nhớ quê hương trở thành một điệp khúc dai dẳng, khôn nguôi trong các tác phẩm sáng tác thời kỳ xa cách. Nỗi nhớ ấy không chỉ là sự hoài niệm mà còn là khát vọng đoàn tụ cháy bỏng. Chính nỗi nhớ sông biển da diết đã tạo nên chiều sâu cảm xúc, làm nên nét riêng độc đáo và cảm động nhất trong phong cách thơ Tế Hanh.

3.2. Nhân vật trữ tình Chân dung tự họa một tâm hồn đa cảm

Đằng sau thế giới hình tượng là một nhân vật trữ tình với những nét chân dung tự họa rõ nét. Đó là một tâm hồn đa cảm, dễ rung động trước mọi biến thái của đời sống. Từ chàng học trò trẻ tuổi buồn bã ở sân ga trong Những ngày nghỉ học, đến người công dân nặng lòng với non sông trong Nhớ con sông quê hương, nhân vật trữ tình của Tế Hanh luôn hiện lên với sự chân thành và tha thiết. Theo Hoài Thanh, chính “tâm hồn tha thiết” là cội nguồn cho cái nhìn sâu sắc của nhà thơ. Tế Hanh không che giấu cảm xúc. Ông bộc trực, giãi bày, sẻ chia. Chân dung tự họa này không ồn ào, dữ dội mà trầm lắng, sâu sắc. Chính sự đa sầu đa cảm, kết hợp với lòng yêu thương cuộc sống đã tạo nên một tiếng thơ dễ đi vào lòng người, dễ chiếm được sự đồng cảm của độc giả qua nhiều thế hệ.

IV. Phân tích các phương thức biểu hiện nghệ thuật đặc sắc

Để hiểu rõ đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh, cần đi sâu phân tích các phương thức biểu hiện mà ông sử dụng. Phong cách của Tế Hanh được định hình bởi sự kết hợp hài hòa giữa ngôn ngữ giản dị, giọng điệu tâm tình và các thủ pháp nghệ thuật tinh tế. Ông không chủ trương cách tân hình thức một cách cầu kỳ, mà tập trung vào việc chắt lọc những gì tinh túy nhất từ đời sống và ngôn ngữ thường ngày để đưa vào thơ. Sức hấp dẫn trong thơ ông đến từ sự tự nhiên, chân thật, không tô vẽ. Tuy nhiên, đằng sau sự giản dị ấy là một quá trình lao động nghệ thuật nghiêm túc, một khả năng làm chủ ngôn từ và các phương tiện biểu đạt điêu luyện. Phân tích các yếu tố như ngôn ngữ thơ ca, giọng điệu, và thủ pháp nghệ thuật sẽ làm sáng tỏ những đóng góp độc đáo của Tế Hanh về mặt thi pháp, khẳng định ông là một nhà thơ có phong cách riêng biệt và vững vàng.

4.1. Đặc sắc ngôn ngữ thơ Sự trong sáng giản dị và hàm súc

Ngôn ngữ thơ Tế Hanh nổi bật với lối diễn đạt trong sáng, giản dị. Ông sử dụng từ ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhưng được chắt lọc và đặt vào đúng vị trí để tạo ra hiệu quả thẩm mỹ cao. Câu thơ của ông ngắn gọn, rõ ràng, tránh những cấu trúc phức tạp, rối rắm. Sự giản dị này không đồng nghĩa với sự đơn điệu. Ngược lại, ngôn ngữ của ông rất tinh tế và hàm súc. Tế Hanh có khả năng dùng những từ ngữ bình dị để gợi lên những cảm xúc sâu xa, những ý nghĩa khái quát. Chẳng hạn, hình ảnh “cánh buồm giương to như mảnh hồn làng” là một sáng tạo từ ngữ độc đáo, biến một vật thể cụ thể thành một biểu tượng tinh thần. Sự kết hợp giữa cái thật và cái đẹp, giữa đời thường và thi vị là một trong những đặc điểm chủ yếu trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của Tế Hanh.

4.2. Giọng điệu thơ Sự hòa quyện giữa tâm tình và suy tư triết lý

Giọng điệu trong thơ Tế Hanh rất đa dạng nhưng nổi bật nhất là giọng tâm tình, giãi bày, sẻ chia. Đây là giọng điệu chủ đạo, tạo nên cảm giác gần gũi, chân thành. Người đọc cảm thấy như đang lắng nghe lời thủ thỉ của một người bạn. Tuy nhiên, bên cạnh giọng tâm tình, thơ ông còn có giọng mộc mạc, chân thật khi kể về những kỷ niệm quê hương. Đặc biệt, ở giai đoạn sau, nhất là tuổi xế chiều, thơ Tế Hanh xuất hiện rõ hơn giọng suy tư, triết lý. Những chiêm nghiệm về cuộc đời, thời gian, và nghệ thuật được thể hiện một cách trầm tĩnh, sâu lắng. Như Mai Hương nhận xét: “Cùng với giọng chủ đạo: tâm tình, thơ Tế Hanh dần có sự kết hợp bổ sung những giọng điệu khác: hoặc day dứt, trăn trở hoặc trầm tĩnh, suy tu”. Sự hòa quyện các giọng điệu này làm cho thơ ông trở nên phong phú và có chiều sâu.

4.3. Thủ pháp nghệ thuật Lối so sánh ẩn dụ và cách lập tứ độc đáo

Một trong những đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh nổi bật là việc sử dụng thành công các thủ pháp nghệ thuật, đặc biệt là so sánh và ẩn dụ. Lối so sánh của ông rất độc đáo, thường lấy những cái vô hình để so sánh với cái hữu hình, hoặc ngược lại, tạo ra những liên tưởng bất ngờ và thú vị. Ví dụ kinh điển là câu thơ “Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng / Rướn thân trắng bao la thâu góp gió”. Bên cạnh đó, nét độc đáo trong việc tạo lập tứ thơ cũng là một thành công lớn. Chế Lan Viên từng nhận xét: “Ý tứ ở anh cũng là cái tứ của trái tim hơn của óc”. Tứ thơ của Tế Hanh thường nảy sinh từ một cảm xúc chân thành, một kỷ niệm sâu sắc, sau đó được phát triển một cách tự nhiên, logic. Các bài như Lời con đường quê, Quê hương, Những ngày nghỉ học đều có cấu tứ lạ, độc đáo, ghi dấu ấn riêng không thể nhầm lẫn của nhà thơ.

27/07/2025
Luận văn thạc sĩ khoa học xã hội và nhân văn đặc điểm nghệ thuật thơ tế hanh

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: TẾ Hanh- hành trình sáng tạo thơ ca Chương 2 : Nét độc đáo của thể giới nghệ thuật thơ Té Hanh Chương 3: Đặc điểm nghệ thuật thơ Tế Hanh qua một số phương thức. thể hiện CHUONG 1 ‘TE HANH - HANH TRÌNH SÁNG TẠO THƠ CA. CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP THƠ CA CỦA TE HANH 1.1 Tế Hanh giai đoạn khởi đầu Bước vào làng thơ một cách rụt rẻ, nhưng Tế Hanh đã sớm khẳng định. được vị trí của mình trong giai đoạn phát triển của thơ ca cuối những năm 30 của thế kỷ trước.

Năm 1941, khi xây dựng cuỗn Thi nhân Việt Nam, tập hợp 46 tác giả nỗi bật trong phong trảo thơ Mới, Hoài Thanh - Hoài Chân đã nhận định: “Tôi thấy Tế Hanh là một người tinh lắm.Tế Hanh sở dĩ nhìn đời một cách sâu sắc như thế là vì người sẵn có một tâm hồn tha thiết” [23, tr. Cái "tình "như Hoài tân, Hoài Thanh nói là sự tinh tế, nhạy cảm của một hồn thơ trước vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp của con người, của tình đời. Là người nhập cuộc khá muộn, TẾ Hanh bước vào làng thơ khi phong trào Thơ mới đã đi được một chặng đường dài từ lăng mạn qua tượng trưng, siêu thực Khi mỗi n Thơ mới là một ốc đảo riêng với cái hồ cá nhân chủ nghĩa, tách biệt với cuộc sống cộng đồng và đi vào siêu hình thì Tế Hanh, người đến sau, cũng không nằm ngoài quỹ đạo. Ông không thoát khỏi mach cảm xúc buồn, cô đơn của thế hệ.

Chính Tế Hanh sau này đã bộc bạch chân. thành: Và tôi đã giải quyết bằng cách không công nhận cuộc đời ấy.nhưng con đường nghệ thuật mà tôi đã đi.là thứ nghệ thuật giúp tôi quên tắt cả những cái đó một cách tôi cho la thin điệu” [10, tr.3] Tế Hanh lặng lẽ và dẻ đặt góp tiếng thơ riêng của mình. Tuy nhiên, điểm khác của Tế Hanh so ví các nhà (hơ lăng mạn cùng thời là buổn, cô đơn mà không bế tắc; có ao ước, mơ mang ma không quên gắn bó với quê hương, cuộc sống. Trong khi các nhà 7hơ mới mỗi người tìm cho mình một lối thoát phi thực tế: “Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường.

tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bên, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngắn ngơ buồn trở vẻ hồn ta cùng Huy. Cận” [23, tr47] thì TẾ Hanh lại hướng tâm hồn về với những cái thân thuộc.

nhất của quê hương, gia đình và cuộc sống nơi làng quê vốn làm nghề chài lưới của ông. Là người con đã gắn bó, lớn lên cùng quê hương bản xứ, Tế Hanh đã cảm nhận được một cách tỉnh tế vẻ đẹp của người lao động quê mình. bằng tắt cả yêu thương, ông đã vẽ lại họ trong một khúc ca trong trẻo, hồn. Có được điều đó là bởi ông đã từng: Tôi thâu tê ti trong đa thịt Hương đất, hương đồng chẳng ngớt tuôn.

Khởi thủy từ một tâm hồn nặng lòng với cuộc sống, giàu tình thương. với con người và quê hương, TẾ Hanh dem đến cho Thơ Mới những bài thơ hồn nhiên, trong trẻo. Đó phải chăng là cái buồn trong sáng của một tâm hồn. đáng quý! Tế Hanh góp thêm không khí thơ đương thời một luồng gió trong.

Thơ của ông gin với cảm quan với tình cảm hơn là phân tích suy đoán của lý luận. Những bài thơ /foa niền của mơ mộng học trỏ, của lãng mạn thi nhân đã được tuôi trẻ đón nhận một cách hân hoan, nồng nhiệt. trong Thí nhân Việt Nam khi giới thiệu Tế Hanh như một cây bút "vẫn còn trẻ lắm và cũng mới bước vào làng thơ" đã kể lại ấn tượng về lần gặp gỡ với người thiểu niên thỉ sĩ ryt ré ngượng nghịu mới bước vào tuổi đôi mươi thể hiện "cái nhìn sâu sắc của một con người sẵn có một tâm hồn tha thiết" [23, tr. Bài thơ Qué huong Ít nhiều có thể coi là một hiện tượng của thơ đương, thời về đề tài thôn quê, để nâng cảm xúc thôn dã thành một chủ đề có tằm khái quát mới, sâu sắc hơn: qu hương.

Khái niệm "quê hương" nay có thêm âm vang sóng nước và vị mặn mòi của biển cá, được cắt lên qua một khúc ca lao động khỏe khoắn và trong lành, một tiếng nói thiết tha gắn bó với một vùng chải lưới. Có thể nói, Thơ mới lần đầu tiên biết hát lên những câu hát khỏe khoán, đẫm mồ hôi lao động qua những vằn thơ tha thiết ấy. Tế Hanh đã tô thêm màu sắc, bồi đắp thêm những giá trị mới cho thơ lãng mạn vào chặng. Tế Hanh với những tháng năm “Ngày Bắc đêm Nam” Tuy sớm khẳng định dược những nét riêng của "bồng ñoa nở muộn trong vườn hoa Thơ mới”, nhưng Tế Hanh cũng không tránh khỏi những tác động của xã hội những năm 40 của thể ki XX, rơi vào chán nản, bi quan.

Trong thơ Tế Hanh thời kỳ 1942-1944, đã xuất hiện một mạch thơ khác bó với hign thye nhu thug “Hoa niên” ngày trước. Ở giai đoạn này, thơ Tế Hanh xuất hiện một nỗi buồn nặng. nề, có phần bế tắc trước cuộc sống. Có thể thấy điều này qua cách nhìn đời của Ông 'Và sau hết ta chỉ còn ngắn lệ Nằm rưng rưng trong mắt của đêm hờn.

(Trăng tàn) Cách mạng tháng Tám 1945 bùng nổ, đưa Tế Hanh và nhiều văn nghệ sĩ sang quỹ đạo của lý tưởng chính trị và nghệ thuật mới. Trong giai đoạn này, Tế Hanh đã phải vượt lên chính bản thân mình rất nhiều. Đầu tiên, là một sự chuyển đổi trong nhận thức, trong cách sống, cách nghĩ, cách cảm. những chuyển đối ấy đã tạo nên những cách tân rõ rệt trong thơ Tế Hanh.

Giờ đây, Tế Hanh đã chuyển cái Tôi công dân của mình được biểu hiện trực tiếp thông qua phẩm chất cái Tôi hành động, tham gia các hoạt động cách mạng 'Ông hãng say lao vào công tác, gần gũi quần chúng lao động, nhất là bà con nông dân Càng trưởng thành, tâm hồn TẾ Hanh càng giàu có hơn lên. Ở hai tập thơ Hoa mùa thi (1949) và đặc biệt là Nhân dân một lòng (1953) cái Tôi hành động của nha thơ được biểu hiện cụ thể, rỡ nét. Chủ thể nhà thơ hẳu như không xuất hiện trong trạng thái tĩnh, trằm tư, trữ tình mà giờ đây như một người trong cuộc sống đang trực tiếp tham gia vào các hoạt động kháng chiến cùng cảm nhận khách quan hiện thực mới một cách có ý nghĩa. Tế Hanh lúc này đã dần chuyển mình, lột xác, tìm tòi, hướng đến cái mới.

Trong thơ ông. giờ đây đã xuất hiện những nhân vật trữ tình mới, khoẻ khoắn. Đây là một 'bước chuyển rõ rệt của Tế Hanh đã tìm được chất thơ ở ngoài mình, nhưng. xét về hiệu quả nghệ thuật thơ kháng chiến chống thực dân Pháp của ông vẫn.

chưa tạo được âm vang trong lòng người đọc. 'Ngày đất nước hòa bình 1954, trong “Chiém bao” và “Nhớ con sông qué liên tiếp trong hai tháng 5 và 6 năm 1956, thơ ông đã có một bước tiền vượt bậc về chất lượng. Tế Hanh đã tìm được mối hòa hợp đúng. nhất của hồn thơ với chất thơ của đời sống.

Thơ ông lúc này đạt độ chín và đó. cũng là kết quả của một quá trình phần đấu để có sự hòa hợp thực sự giữa cái Tôi và cái Ta Đất nước tạm chia cắt, chủ để mới đến với tho TE Hanh, chi dé bao trùm trong nhiều thập niên và tạo nhiều thành công trong thơ ông: sự nghiệp. đầu tranh giải phóng đất nước. Ở đây Tế Hanh đã tìm được sự hòa hợp, nhuằn.

nhị của hồn thơ mình với cÍ thơ của đời sống Lông miễn Nam, Gửi miễn Bắc, Tiếng sóng, Hai nửa yêu thương. Hàng loạt những bài thơ hay của ông. được dư luận chú ý, đánh giá cao và cho đến nay, đọc lại vẫn đâng trào cảm. Trên đường thơ của mình, Tế Hanh đã tiến một bước dài.

Đây là thời kỳ sung sức, chín rộ nhất của thơ Tế Hanh. Ông vượt lên ở thể chủ động. Chủ động kết hợp riêng chung trong lý tưởng, kết cấu, nhịp điệu, ngôn ngữ, gieo. vằn, nó hòa đồng được với nhịp đập con tim.

Té Hanh lựa chọn những gi lu nhẹ, sâu lắng ; ngay cả trong các biến cố xã hội dữ dội, ông cũng lấy ra những. mảnh nhỏ để thể hiện. Nhưng tổng hợp lại, từ những dòng nước nhỏ ấy, chúng ta vẫn nhận ra sự gắn bó của ông với đời sống dân tộc và tiếng thơ ông có cách thâm nhập riêng để rồi đọng lại trong lòng người tắm lòng chân thành, nhưng sự chân thật là yếu t6 quan trong trong tho Té Hanh Lòng ta như bếp lửa Dun cdi những cuộc đời “Thành thơ bao nỗi vui “Thành thơ bao nỗi khổ Sự giằng xé nội tâm đã tạo sự phong phú trong thơ ông. Tế Hanh vui với miền Bắc có thêm những công trình mới nhưng lại chạnh lòng xa xót quê hương, đồng chí, đồng bảo miễn Nam đang còn chịu.

Khúc ca mới, Đi suốt bài ca, Theo nhịp tháng này, Giữa những ngày xuân, Bài ca sự sống. Chiêm bao và Nhớ con sông quê hương. Nộ chính là tình cảm của tác giả những ngày đầu xa quê hương, một cuộc đi xa mà ngày vẻ phải qua nhiều khó khăn trắc trở, khiến nỗi thương. nhớ càng ngút ngàn, thắm thía xót xa.

Bài thơ Chiếm bao có cái tháng thốt bảng hoàng của nỗi lòng đó: Chiêm bao bừng tỉnh giắc Biết là em đã xa Trên tường một tỉa Biết là đêm đã qua. ‘Nhung lại có được sự tin tưởng, tỉnh thức của ý chí Giấc chiêm bao đêm trước Soi sáng cả ngày sau Đây chính là bước tiến của hồn thơ Tế Hanh, là kết quả của quá trình phần đầu bền bi đầy cam go của ông. Tế Hanh gid đây đã tìm lại được mình với những nét chân thật trong tình cảm mới. Sự chuyển biến lớn trong nhận thức về cách mạng đã trở thành tình cảm thiêng liêng, vững bền.

Tế Hanh nhìn nhận mới về hiện thực, phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua tâm trạng, cảm xúc sâu lắng của mình. Bait nude thống nhất 1975, một chặng đường mới của thơ Tế Hanh bắt đầu. Tập thơ Giữa những ngày xuân ra đời trong không khí ấy. Ở đây chúng ta bắt gặp khát vọng trở về của người con đã từ lâu mang trong mình niềm.

khát khao cháy bỏng: Tôi sẽ trở lại nơi tôi hằng mơ ước Tôi sẽ về sông nước của quê hương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ