Chương 1. Quan niệm nghệ thuật và hành trình sảng tạo thơ Mai Văn Phần “Chương 2. Kiểu tư duy thơ, các chủ đề chính và các hình ảnh mang tính biểu tượng trong thơ Mai Văn Phin “Chương 3. Ngôn ngữ, giọng điệu và các biện pháp nghệ thuật đặc sắc trong.
thơ Mai Văn Phin CHUONG 1 QUAN NIEM NGHE THUAT VA HANH TRINH SANG TAO THO MAI VAN PHAN, 1. Quan niệm nghệ thuật 1. Quan niệm về thỉ ca “Trong suốt hành trình sắng tao nghệ thuật của Mai Văn Phần là người luôn trăn trở và suy tr một cách nghiêm i về nghề nghiệp. Ông it ngon các «quan nigm về thơ Không chỉ trong sáng tác mã còn cả trong các bài iểu luận và trả lời phông vẫn.
Quả đúng nhưý kiến của Th.S, Trần Thiện Khanh: "VỀ phương điện lý thuyết có bao nhiều người sáng tạo tì có bẩy nhiều quan niệm về th ca. Suy cho cũng, mọi quan niệm đều mình chúng cho các cấp độtư duy, các trình độ nhận thúc tắt khác nhau của người cằm bút về văn học”[28, tr:507] Với Mai Văn Phắn, "văn chương là hành tình đơn độc đi tìm cái đẹp. Tác phẩm văn học rước hết quay lại hoàn thiện nhân cách, quan niệm thẩm mỹ và định "hướng cho chính nhà văn ấy” [55, 7448]. "Thơ ca ngoài mục đích tải đạo, tuyên truyền, mô phông, diễn tả.ó côn tìm cách đặt tên li sự vật, định hình lại thể giới” 155, 1.454} Không chỉ có thế, “Thơ , đối với Mai Văn Phần, là cách thức huyền điệu nhất để đặt đồi sống lên con đường vĩnh cửu của nó, ) là sự xác lập anh với thiến nhiên, với xã hội, với những giắc mơ huyền điệu vả đình cao của nổ là xác lập son "người trẫn tục của nhà thơ và con người sắng tạo của anh ta" [3,15].
Qua nhân Xét của nhà thơ Nguyễn Quang Thiểu và qua tim hiễu thơ Mai Văn Phần, t biết được th nhân đã xác tín thơ ca là cu nổi giữa nhà thơ và th giới, thơ ca giúp cho con người trở nên cao quý, thánh thiện hơn, làm cho cuộc sảng thêm tốt đẹp hơn, thâm chỉ nó còn mang tong mình một sứ mệnh cao cả là cứu rỗi con người và thể iếi: "Nghiệp vấn chương cực nhọc/ Chở bao nhiều kiếp người/ Chúa cũng đã một 1i Chất như người hành Kiắt/ Máu chứa hỏa nước sọch/ Ra tội cho cộng đồng/ Ai nự là Tâm Binh?/ Tắm bằng nước mắt Ông” (Nguyên Hồng vào nhà thờ). Nhưng đỏ là sứ mệnh tr thân, hết sức tự nhiên, Bởi chính ông đã từng nồi: "lúc làm thơ tôi chẳng nghĩ cần phải có trách nhiệm bay sứ mạng gì cả" [S5,tr441] Mai Van Phin cho ring tho ca mang trong nó tính tiên tỉ (đự báo) và cảnh báo, Và theo chúng tôi, tiên tr à cần thiết đối với bắt cứ ác gia nào về ngày mãi "Việc có thể "biến" một giắc mơ, một buổi chiều, một cái lưỡi người (chẳng hạn) thảnh một miếng thịt bỏ và cái khoảng không chúng ta đang sống trở thành một cái tú lạnh khổng lồ. Đó chính là cảnh báo. Tính chất dự báo được thể hiện ởkhá nhiều thì phẩm của Mai Văn Phần mà bài thơ Dĩ chứng là một ví dụ tiê biểu: “Người tơ nói, đồng sông kia đã được tiệt trùng.
Tỏi thân trọng tắm rửa bằng những hương ligu quý. Lội xung, nước đến đấu cơ thẻ tôi bằm đen dẫn đó, ri mọc ra những sợi {ong vũ. THỂ là nữa người trong nước hóa thành chín. Nhưng tiếng hót phải thoát ‘qua vàn họng và lời.
Từ đẫy, miệng tôi luôn chống lại quán tính của phn bằm đen trong nước đồ ngập chìm” (Dì chứng). “Người làm thơ luôn có khát khao viết được những câu thơi bài thơ hay để lại ấn tượng sâu trong lòng người đọc. Vậy làm sao để có được thơ hay? Và đâu là tiêu chí đánh giá một bài thơ là hay/ đỡ? Theo Mai Văn Phin, ther hay không hạn chế ở đề tải, không quy định bởi trường phái, thể loại cũ và mới, truyền thông hay hiên đài, cũng không nhất thiết ệ thuộc vào vẫn điều, tết tấu, phải đề thuộc, để nhới "mà cái hay của thơ được đánh giá ở nhiễu khía cạnh, phương điện và góc độ khác nhau. Và cuối cũng, thơ hay/ đỡ còn tùy thuộc vào khả năng đồng sing tao cia người đọc.
Ông cho rằng: "Thơ hay có thể đến tình cờ với một số thì sỹ trong khoảnh khắc đến ngô, xuất thần. Nhưng đa số các nhà thơ có được thơ hay qua quá trình t luyện, tích Hy kiến thức phong phú, một hành trình bối tìm "vỉa quãng” cia tam hôn, đợi ccảm xúc sẽ chợt nhòa chợt hiện và nhà thơ, với tắt cả sự choáng ngợp của mình” [Š: tr391] Tuy nhiền, những câu thơ hay, tuyệt bút không phải là ái đích cuỗi cũng của Mai Văn Phần mà ông hướng đến thiết lập một từ trường thơ, Tú là nhà thơ Không tập trung vào các điểm chói sáng mà hướng đến những bải thơ hay rong quan hệ với chinh thé. Thi nin cho rằng, đây chính là điểm khác biệt giữa thơ mới và th cũ. "Đặc bit, Mai Văn Phần luôn coi quá trình sáng tạo nghệ thuật là một cuộc "vong thản", một cuộc vượt thoát chính bản thân mình, Mỗi nhà thơ phải biết tư phủ định mình, ức à phải coi cái mà mình vừa viết ra là cái đã cũ thì mới mong đạt đến thành công đỉnh cao trong nghệ huật.
Ông cho rằng, bài thơ mà nhà thơ viết rà Không côn thuộc về anh ta nữa mã thuộc về độc giả, Và nhỗ thơ muốn tiếp tục tổn tại phải được tải sinh trong một bài thơ khác đang chờ đợi phía chân trời: "Tôi quan. niệm tác phẩm sau khí được công bổ tổn tai độc lập với người làm ra nó (. Tôi Không có thôi quen chiêm bái những con đường cũ của mình, không " way vai ly chiếc áo vừa treo lêngiấ”"[55, tr430] “Qua phát ngôn này, th sỹ đang gián tiệp kêu gọi ạn đọc đẳng sing tạo, kêu goi hình thành liên văn bản cho tác phẩm. Quan niệm này của Mai Văn Phẫn có điểm gặp gỡ với quan điểm của một số nhà lý luận, phê bình văn học th giới và cả Việt Nam.
Roman Ingarden cho rằng: "Mọi tác phẩm văn học đều dang đỡ, luôn đôi bi sự bổ sung mã Không bao giờ ta đạt tới giới hạn cuối cũng bằng văn bản” [Dẫn theo Truong Ding Dung, 7, r43]. Còn nhả lí luận và phê bình văn học Trương Đăng Dung cũng đã từng khẳng định: "sự iếp nhận cổ nghĩa à quá nh thỏa thuận eiữa văn chương và sự tải sáng tạo bản sắc riêng của người đọc” [7, tr. Không chỉ dừng lị ở đó, Mai Van Phin edn xem vin đề cách tân là vấn để trùng tâm trong quan niệm thơ của mình. Ông dùng từ "vong thân” để nối đến quá trình vượt thoát khôi cá ính của người nghệ sĩ.
Mai Văn Phần cho rằng: “Thật kinh "hi khi phải ngắm nhìn một nghệ sỹ cứ đứng mãi một chỗ mà biểu diễn quá nhiều lần một tết mục tới gần như vô cảm, nói cách khác là thương hại những ai hâm canh tiền miên trên mảnh đắt đã cẩn cỗ [S5, 399]. Mã quả tình "vong thân” thường đồng hành với quá trình đổi mới thì pháp. Với Mai Vin Pl Đôi mới th hấp trước hết là từ chỗi ve vuốt những sỡ h của người đọc, nhằm tạo những. sống từ Khác, những mã số khác trong không gian thơ vừa được Khám phí.
Lý tưởng thỉ ca của sự cách tân nhằm gọi đứng bản chất của sự vật trong nhịp điệu đời sống hiện dai” [55,378 Rõ rằng, nói thì dễ mã làm mới khó. Ai đã từng làm thơ đều biết rằng, đổi "mới thì pháp luôn là con đường đầy khó khăn và hiểm trở. Nó đôi hỏi ở người làm, thơ một bản lĩnh, một nghị lục, một sự quyết tâm cao độ và hơn thế là một tải năng thực sự. Những điều đáng rân trọng ở Mai Văn Phần là lời nói luôn song hành cũng, "hành động.
Hơn ai hết là một con chiến của Chúa, Mai Văn Phần hiển ng: "Đức tin không có việc làm là đức tin ch + Vĩ thể, rong suốt cuộc đồi cằm bắt của "mình, Mai Văn Phin luôn tâm niệm: “Các khuynh hướng sing tác đều rắt cần và làm phong phú thém cho nén thi ca của chúng ta Hiện chúng ta vẫn còn hỗ nghỉ vỉ sòn quá í tải năng cho những "thể nghiệm” được thuyết phục" [55,439]. Bản về vấn để đỗi mới thì pháp, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến đã mạnh dạn khẳng định: "Nếu số nhà thơ nào đỗ đang lãng lề luôn tự đổi mới thơ mình và phá vỡ các nhịp điều “môn cũ trong các thể nghiệm thơ hôm nay, theo tôi, người đỏ phải là Mai Văn Phần, “Từ trữ tình — cổ - điển, anh *bay” thẳng một mạch vào, âu - hiện - đại, rồi từ đó “lao” vào vòng xoáy đây ấn tượng của thơ - cách - tân” [28, tr. Tuy nhiên, Mai Văn Phin thường tâm niệm: đã có cách tân th ca đến đầu thì vẫn phải hướng con người vươn tới cái đẹp. Và ông đặt niềm tn tưởng mạnh mẽ ‘vio mét nền thơ Việt trong tương lai với kỳ vọng rất lớn vào sự nỗ lực không ngừng.
của thể hệ cằm bút trẻ hôm nay và cả mai sau Nổi về mỗi quan hệ giữa nội dung và hình thức của tác phẩm văn học, đồng quan điềm với đa số các nhà luân văn học, Mai Văn Phần cho rằng: “Nội dung phải là chất liệu đã mang một hình thức được xác định và thức không bao giờ tổn ti độc lập với nội dung của chính nó” [SS, 456]. Vìtể, đổi mới th pháp phải sini với việ tạo ra một hình thức mới, kèm theo một nội dung mới trong thơ ca. CC thể hơn, Mai Văn Phần đã ch ra: "Hình thức được chuyển hỏa thành nội dụng, đồ mới là đổi mới thực sự. Nội dung mới trong thơtôi là những quan tâm mang tính thời đại và thời sự, như lý tưởng sống của thể hệ tr, vấn đề ÿ thức hệ, quan tự do, công bằng, dân chủ -” [5, tr456 = 457].
Xét một cách toàn diệ nhu cầu tự thân của thỉ ca. Cuộc sống luôn văn động, cảm xúc của con người cũng, không đồng yên. Tại sao thơ li phải viết theo hình thức cũ? Thực chất nội dung phản ánh của thơ ca bao đời nay chẳng có gì mới, vẫn là vid về thiên nhiên và con người với nỗi buồn, nỗi cô đơn, nỗi lo toan thường nhật, những mốt quan hệ và sư ứng xử giữa người với người, giữa con người với mỗi trường sống. Vậy cái mới cf thể tao r từ hình thức, từ đó mang đến cho người đọc cách cảm nhân mới về những nội dung đã cũ.