Chương 1: Về thể hồi ký và sự ra đời của hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương Chương 2: Thế giới hiện thực trong hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm. tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng Chương 3: Phương thức nghệ thuật thể hiện trong hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma Văn Kháng. 10 CHUONG 1 VE THE HOI KY VA SU RA DOI CUA HOI KY NAM THANG NHQC NHAN NAM THANG NHO THUONG 1. VAI NET VE THE HOI KY ký là một thể văn xuôi tự sự thuộc loại hình ký bên cạnh những thể khác như: bút ký, tùy bút, phóng sự.
Những năm gần đây hồi ký trở thành thể loại thu hút được sự quan tâm của nhiều người và có vị trí quan trọng trong đời sống văn học nói chung và đời sống văn học ở Việt Nam. Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học, 2006, Hoàng Phê (chủ biên) đưa ra cách hiểu: *Hồi ký là thể ký ghỉ lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đã chứng kiến sự việc” [36, tr. phương điện “hình thức, thể loại của tác phẩm nghệ thuật bằng những đặc. trưng khác về dé tài, phong cách” [36, tr.
900] người ta còn dùng thuật ngữ thể tài, và có thê gọi thé tài hỗi ký. Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên). trong Tử điển thuật n văn học, Nhà xuất bản Giáo dục năm 2007, cho rằng: “Hồi ký à một thể van xuôi thuộc loại hình ký kể lại những biển cổ xảy ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến”. Theo cách hiểu này, trước hết hỗi ký đòi hỏi tính chính xác cả về thời gian và sự việc được ghi lại; ở đặc.
điểm này, hồi ký gần với văn xuôi tư liệu, văn xuôi lịch sử. Mặt khác, việc ghi chép sự việc, cảm xúc theo trật tự thời gian hồi ký cũng lại gần với nhật ký. Dù thiên về phía loại hình văn xuôi phi hư cấu, nhưng trong khi ghỉ chép lại sự việc thông qua thế giới hiện thực ký ức, nhà văn không thể không gửi gắm. thái độ, tình cảm của mình.
Vì vậy, khác với văn xuôi lịch sử, văn xuôi khoa " học, hồi ký là một thể loại văn xuôi nghệ thuật, với các kiểu rất đa dạng và phong phú. Cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân cũng nói rõ thêm: "Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả (“tôi je giả, không phải “tôi” hư cấu ở một số tiểu thuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực xây ra trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [1, tr. Cũng cần phân biệt hỏi ký và ự truyện. Đây là hai khái niệm rất gần.
nhau nhưng không hoàn toàn trùng khít. “Hồi ký có thể chỉ ghi những sự kiện về một thời kỳ lịch sử, mà tác giả không phải là nhân vật chính, còn tự truyện là kể các truyện của cái "tôi” tác giả. Tự truyện không phải là một tập hợp. truyện tản mạn, mà được bố trí như một truyện, một tiểu thu) L Hiện thực tác.
phí từ bản thân nhà văn” [12, tr. Vậy là cả ký và tự truyện đều lấy chất liệu từ thể giới hiện thực hồi ức, nhưng hồi ký có thể thuật lại sự. việc khách quan qua, còn tự truyện, nói như Nguyễn Khải “là tiểu thuyết đi tìm cái tôi đã mất”, do tác giả tự viết về cuộc đời mình. Mỗi ký ra đời trên cơ sở một hoàn cảnh lịch sử xã hội nhất định, khi mà ý thức về cái tôi - cá nhân - cá thể được thức tỉnh; và sáng tạo nghệ thuật, trong.
đó viết văn trở thành một loại hình lao động nghề nghiệp, được coi trọng; văn nghệ sĩ trở thành một tầng lớp nhất định trong xã hội. Chính họ vừa là chủ thể và cũng là một trong những đồi tượng thẩm mỹ của tác phẩm. Ở phương Tây, hồi ký vốn xuất hiện rất sớm từ thời Hy Lạp cổ đại và ngày càng phát triển qua các thời kỳ sau đó, nhất là từ sau thời đại Phục hưng Nhung ở nước ta, phải đến khi văn hóa phương Đông thực sự tiếp thu và sáp. nhập với văn hóa phương Tây, hổi ký mới ra đời cùng với tiền trình hiện đại hóa nền văn học dân tộc, bắt đầu từ thế kỷ XX.
Trong giai đoạn 1930 - 1945, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Có. đại của Tô Hoài là những tập hồi ký -tự truyện đầu tiên đã xuất hiện trong nền 2 văn xuôi hiện đại nước ta. Nhưng từ năm 1945 đến 1975, trước những biến động của đời sống xã hội, trong hoàn cảnh cả dân tộc phải tiến hành cuộc. chiến tranh chống giặc ngoại xâm, cái tôi cá nhân tạm thời lắng xuống.
nhường chỗ cho cái tôi sử thi, cộng đồng. Vì thế, nhìn chung tác phẩm hồi ký ra đời vẫn còn thưa thớt, hồi ký cách mạng phát triển hơn so với hồi ký văn học. Một số tác phẩm hỏi ký để lại ấn tượng đáng ghi nhận có thể kể đến như: Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng, 1969), Bước đường viết văn (Nguyên Hồng, 1970), Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan, 1971), Tự truyền (Tô Hoài. 1973), Ta da làm chỉ cho đời ta (Vũ Hoàng Chương, 1974).
Một số nhà văn. đã lấy chính con người cá nhân của mình làm đối tượng để suy ngẫm. Sau 1975, chiến tranh khép lại, cuộc sống trở lại đời thường, nhà văn có. điều kiện nhìn lại cuộc đời mình và sự việc những ngày đã qua của hoàn cảnh lịch sử xã hội và đất nước, và nhất là từ ngày công cuộc đổi mới được phát động, lần lượt nhiều hồi ký của các nhà văn lớp trước được xuất bản: Nguyễn Công Hoan có Nhé gi ghi nấy (1998),Tô Hoài có Cát bụi chân ai (1990), Chiều chiểu (1998), Đặng Thai Mai có Hồi ký (1985), Lưu Trọng Lư có Nửa.
đêm sực tỉnh (1989), Tố Hữu có Nhớ lại một thời (2000), Huy Cận có Hỏi ký. Chính sự xuất hiện nhiều tác phẩm hồi ký của các nhà văn trên văn đàn. những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ XX đã tạo nên một mảng sinh động. của đời sống văn học mà có thể nói rằng, trước đó chưa có.
Bởi lẽ, qua hồi ký, người đọc không chỉ ếp cận và có dịp hiểu thêm cuộc đời tâm hỗn, tính cách, khát vọng chân thực của cái tôi bản thể ở mỗi nhà văn, mà còn hình dung được bức tranh hiện thực của đất nước, dân tộc qua từng số phận trong. mỗi chăng đường lịch sử. Nói cách khác, những tác phẩm hồi ký có giá tị B đích thực sẽ góp phần thức dậy những nét đẹp truyền thống, có ý nghĩa soi sáng hiện tại, đáp ứng được nhu cầu nhận thức thắm mỹ cho hôm nay và cả mai sau. Chính vì thế mà nhà thơ Huy Cận trong hồi ký đã cho rằng: "Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc đời mình, cũng là san sẻ cho người trong thiên hạ vui buồn của mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời sống”.
Sự xuất hú ìn như một dòng chảy liên tục những tác phẩm hồi ký từ những năm 80 của. thế kỷ XX cho đến nay đã khẳng định sự tồn tại của một thể loại văn học đang. được dư luận quan tâm chú ý. Có thể thấy, giá trị của một tập hồi ký vượt lên cả nhu cầu tự nói về mình.
và sự hắp dẫn nghệ thuật là vẻ đẹp nhân cách của người cằm bút. Bởi “hồi ký là một bức tranh về một thời đại, bên cạnh câu chuyện của mình, tác giả đi tìm hiểu những mảnh đời khác” và “trong khi đi tìm hiểu cái tôi, tác tăng ta một tác phẩm văn học”. MA VAN KHANG VA SY RA DOL CUA HOL KY NAM THANG NHOC NHAN NAM THANG NHỚ THƯƠNG 1. Con đường từ một nhà giáo đến nhà văn.
Ma Văn Kháng tên thật là Đỉnh Trọng Đoàn sinh ngày 01 tháng 12 nim 1936, theo như lời tác giả kể lại trong hồi ký thì năm 1936 là chính xác, còn ngày 01 tháng 12 là không đúng (Đó là ngày tháng do anh cả nhà văn đặt ra, khi định xin cho ông vào học trường Trung học Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, năm 1948). Quê gốc ở phường Kim Liên, quận Đống Đa, Hà Nội. Sinh ra trong một gia đình tiểu tư sản, buôn bán nhỏ nên ông được quan tâm chăm sóc, học hành tử tế Lớn lên, Ma Văn Kháng lại sớm gặp được ánh sáng cách mạng. Từ tuổi thiếu niên ông đã tham gia tổ chức thiếu sinh quân và được đi học ở Khoa Xã hội Trường trung cấp Sư phạm đóng tại Khu học xá Nam Ninh, Quảng Tây, Trung Quốc, được học văn với những giáo sư đầu ngành, tâm huyết với nghé.
Thế nên hành trình tư tưởng của ông khá thuận chiều. 4 Sau bốn năm ở nước bạn trở về, ông ở lại với mẹ và các em một ngày rồi “ngược dòng nước lũ” xung phong đi thắng lên miền núi ‘on day dứt với tiếng gọi nơi xa, còn cuốn vào sức hút mãnh liệt của những chân trời mới! 'Còn cháy bỏng niềm khao khát được dâng hiển toàn bộ tâm sức cho sự nghiệp giai cấp, đất nước” [30, tr, 51]. Chàng trai trẻ đắt Hà thành đã không ngại gian khó, sẵn sàng lên vùng Tây Bắc xa xôi và chọn mảnh đắt Lào Cai - một nơi heo hút, hoang vắng để dạy học, với ý nguyện góp phần đem ánh sáng đến. cho đồng bào các dân tộc ít người.
Ở đây, nhà văn được tiếp xúc với cuộc. sống hoang sơ buổi ban đầu, “gặp gỡ với lịch sử vùng cao”, chung sống, làm. việc với những con người nồng ấm. Ông gọi đó là sự gặp gỡ kì lạ, ngẫu nhiên.
mà may mắn đã xoay đổi cuộc đời ông trên hành trình tir nhà giáo trở thành nhà văn sau này. Năm 1961, ông vào Khoa Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội. năm 1963 tốt nghiệp thủ khoa, nhưng không ở lại trường, ông lại trở về Lào Cai day hoc, vì như ông nói “tôi yêu Lào Cai đến vô cùng”. Theo dòng hồi ức.
của nhà văn, người đọc có thể thấy được hành trình gian nan và cũng đầy nghị lực của cả một thế hệ thanh niên hồi ấy. Một thầy giáo trẻ vừa nhận nhiệm vụ. hôm trước thì hôm sau đã nhận súng ra gác ở cầu Cốc Lếu đề phòng thổ phi xuống phá cầu. ông vừa dạy học vừa tham gia các phong trào của địa.
Có hè suốt ba tháng lăn lộn khắp miền núi, khắp nẻo vùng sâu, vùng. xa làm thuế nông nghiệt "ba cùn với nhân dân. Nhà giáo trẻ náo nức vào.