CHƯƠNG 1 HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC VÀ QUAN NIỆM VĂN CHƯƠNG CỦA ĐỖ PHÁN NHÌN TỪ CẢM THỨC PHI LÝ 1. GIỚI THUYẾT KHÁI NIỆM. Khi giới xuất hiện cụm từ hữu lý (có lý) thì nó cũng tồn tại cái gọi là phi lý, hữu lý và phi lý như là hai mặt của một vấn đề song song củng tồn tại và bỗ sung cho nhau. Nhưng cái phi lý xuất hiện như khái niệm thực sự với đầy đủ nội hàm và ngoại diên của triết học và đi vào văn học thì phải trải qua những thời kì “thai nghén” vàtiền hóa của lịch sử nhân loại 1.
Khái niệm phi lý trong triết học “Theo Từ điển riếng Liệt của Trung tâm Từ điển học, NXB Da Nẵng, 1998: “phi lý” là trái với lẽ phải thông thường. Đó là cách giải nghĩa đơn. thuần về “phi lý với tư cách là một từ loại trong tiếng Việt. Không dừng ở đấy, phi lý đã trở thành một khái niệm triết học được hiểu ởba cấp độ nghĩ: khác nhau.
Ở cấp đô thứ nhất, trên phương diện logic học thì người ta quan niệm. rằng những gì tồn tại trái với quy tắc logic đều bị coi là “phi lý” [12, tr.15], Với cách hiểu này thì khái niệm phi lý bắt đầu từ thời Cổ đại, khi Zenon và Aristote áp dụng phương pháp ngụy biện cho suy lý logic (tức là phương pháp. lập luận dựa vào giả thiết phi lý). Đến thời Trung đại, khái niệm “phi lý” tiếp tục được sử dụng trong câu nói nỗi tiếng của nhà bác học La Mã Tertullianus (155 - 220): “Tôi tin vi no phi ly”.
Bude sang thé ky XVI, Fr. Bacon (1561 - 1626) đã dùng phương pháp suy luận phi ly dé chứng minh cho chân lý của một sự đánh giá bằng cách chỉ ra sai lầm, mặt trái của sự đánh giá đó. Ở cắp độ thứ hai, trên phương diện lý luận nhận thức, "phi lý là phản lý tính. Tất cả những gì chống lại năng lực nhận thức, chống lại lý trí, không thể 2 lý giải được bằng tư duy thì đều coi la phi lý” [12, tr.
Đây là định nghĩa đã được nên triết học phương Tây hiện đại phát triển thành chủ nghĩa phi lý tính. từ cuối thế kỹ XVIII và kéo dài suốt hơn một thế kỷ. Cơ sở tâm lí của chủ nghĩa phi lý chính là sự mắt lòng tin vào khả năng tư duy, là nỗi thất vọng về một thế ki bao tàn với những cuộc chiến tranh thám khốc, là phản ứng trước. sự bành trướng của kĩ thuật.
nhân loại do đó chủ trương dùng trực giác thay cho tư duy. Chủ nghĩa phi lý tính là cơ sở triết học cho văn học phi lý xuất hiện và tồn tại trong suốt thế kỷ XX. Đỉnh cao của chủ nghĩa phi lý tính hiện đại là chủ nghĩa hiện sinh. Soi chiếu ở cấp độ thứ ba, khái niệm phi lý được các nhà tư tưởng hiện sinh S.
phát triển và hoàn chỉnh. Chủ nghĩa hiện sinh đã tạo ra giữa lý trí và thực tại một vực sâu ngăn cách không thé vượt qua. Và trong cái vực sâu này có sự ngự trị của cái phi lý. Dần dẫn, cái phí lý tở thành khái niệm chủ chốt của chủ nghĩa hiện sinh.
Sự phát triển của chủ nghĩa hiện sinh cũng là quá trình hoàn thiện nhận thức về khái niệm phi Wy. Sau lý thuyết về cái phi lý của S.Sartre cho rằng: “sự tồn tại của con người là phi lý, đời sống con người là một chuỗi những hành vi phi lý, và kết cục sự chết sẽ hoàn thành sự phi lý. Bởi con người trong quá trình thực hiện các dự định của cuộc đời đều phải tạo dựng một hệ giá trị riêng, để tạo nên bản chất của mình, con người phải lựa chọn cái tốt, tạo lập một hệ giá trị để sống vả tồn tai. Va tat nhiên, con người phải thừa nhận người khác cũng có một hệ giá trị riêng.
Do đó, trong quá trình giao tiếp sẽ bị thất bại nên họ cô đơn. Vì mỗi nhân có một hệ giá trị riêng nên khi giao tiếp với các cá nhân tạo lập các mồi quan hệ sẽ không được, con người không hiểu nhau. Thế nhưng nhu cầu của con người sống là phải giao tiếp với người khác nên con người luôn cô đơn. Theo ông, thế giới này phi lý là vì thé.
Mặt khác, Sartre còn cho rằng: “Cái phi lý xuất hiện không chỉ do có sự bất đồng giữa lý tính với thực tại nhân bản, mà ông còn tuyên bố chính cái thực tại nhân bản là một thực tại phi lý, một thực tại của vật tự nó” [12, t.19] Nếu quan niệm J.Sartre mang tinh bỉ quan thì ý kiến của Camus lai mang màu sắc tích cực và toàn diện hơn. Ông cho rằng: “Thể giới thực tại lẫn lý tính của con người đều không phải là phi lý mà phi lý chỉ nảy sinh tự sự bắt hòa hợp giữa khát vọng của lý tính mu\ hiểu thể giới với cái thực tại u tối khó hiểu của thế giới đó, tức là sự tuyệt giao giữa khát vọng lý tính và thực tại u tối” [12, tr19]. Cái phỉ lý của Camus là cái phi lý âm thẳm, day dứt trong nội tâm con người. Theo ông, nếu thế giới được coi là phi lý thì là cái phi lý sau khi đã được con người nhận thức, tức là cái phi lý mang tính chất chủ quan, hậu nghiệm Nỗi ám ảnh về cái phi lý đã đưa Camus trở thành đại diện lớn nhất và.
cuối cùng của khái niệm phi lý. Sau khi Camus đã phát triển khái niệm phi lý lên đến th điểm, không còn nhà triết học nào bàn đến nó nữa, nó chỉ xuất hiện lĩnh vực văn chương, in dấu trong sáng tác của các nhà văn. Khái niệm phí lý trong văn học ‘Cai phi lý trong triết học chính là nguồn gốc của sự phi lý trong văn học, tạo nên trào lưu văn học ph lý. Bên cạnh đó, khái niệm phi lý trong trong văn học còn là kết quả của cuộc khủng hoảng vẺ kinh tế, xã hội, chính trị, tư tưởng cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX, cuộc khủng hoảng vẻ thân phận con người đã có một tác động hàng đầu đến tư tưởng các nhà văn.
Hai yếu tổ lịch sử - xã hội ở xã hội phương Tây hiện đại lúc đó đã quyết định đến văn học phi lý, đó là hiện tượng tha hóa và hiện tượng vật thể hóa, đặc trưng cho xã hội của chủ nghĩa tư bản hàng hóa hiện đại. Sự phi ly hiện rõ khi trong một xã hội cảng ngày các phương tiện thông tin phát triển cảng làm cho con người dễ «dang giao tiếp bao nhiêu thi các mỗi quan hệ đạo lý - nhân văn lại cảng gián đoạn bấy nhiêu, “bộ phận không hợp nhất được với tông thể, cá nhân không, hợp nhất được với tập thể, con người không hợp nhất được với nhân loại” (Durrenmatt). Chính vì thế, văn học phi lý được xem là "một khủng hoảng mang tính sáng tạo” [12, t.100] 'Bắt nguồn từ hai căn nguyên trên, văn học phi lý qua chặng đường phát triên đã hoàn thiện dần khái niệm của nó. Cái phi lý trong văn học được sớm được để cập bởi nhà văn Nga Fedor Dostoievski (1821 - 1881).
Dù không chú ý khai thác đề tài về cái phi lý, nhưng Dostoievski đã cảnh báo về những đi. phi lý thông qua phát biểu của nhân vật: “Thế giới được dựa trên những điều phi lý, và không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu không có những điều phi lý đó” (Anh em nhà Karamazov) [12, tr27] Sau Dostoievski, Kafka (1883 - 1924) chính là người đầu tiên mở đường cho văn học phi lý với ba cuốn tiểu thuyết: Mước Mỹ, Vụ án, Lâu đài cùng. một số truyện ngắn. Ông đã tạo nên cách tân to lớn trong nghệ thuật văn xuôi.
Hai cuốn tiểu thuyết nỗi tiếng của ông Ứ⁄ự án, Lâu đài trở thành hai tác phẩm. điển hình của văn học phi lý và đưa ông trở thành bậc thầy của văn chương. Điểm độc đáo của Kafka ở chỗ cái phi lý của cuộc đời chính là nhân vật trung tâm trong sáng tác. Cái phi lý ấy hòa lẫn vào mọi lĩnh vực, ngõ ngách của đời sống con người: pháp luật, hành chính, vào số phận cá nhân.
hữu danh và vô danh như Josef K. (âu đải) và con người trở thành những con rối bị cái phi lý giật day. Ở Kafka, cái phí lý đối tượng nhận thức thắm mĩ c lứ không phải là hiện tượng xã hội. Phi lý tồn tại với tư cách là kết quả của hiện tượng tha hóa, hiện tượng áp đặt độc đoán và lối sống bầy đàn tôi tệ của xã hội hiện đại.
Theo nhà văn, cái phi lý chính là một đối tượng nhận thức khách quan, điều khiển, chỉ phối vận mệnh của con người. Và cái phi lý trong sáng tác của ông đó là sự phi lý của bi kịch bản thể, tấn bi kịch của con người hiện tồn trong. thế giới đương thời. Vì thế, các nhân vật của Kafka hằu hết là những nhân vật đối lập với phần còn lại của thể giới đang sống l¿ sống bẩy đàn, cô đơn trước.
cuộc đời, cô đơn trước thế giới của cái phi lý và muốn tổn tại phải đấu tranh. Với lý thuyết về văn học phi lý, Kafka là người mở đường cho. ‘van học hiện sinh chủ nghĩa và kịch phí lý. Bổ sung cho quan điểm của Kafka và văn học phi ly, Albert Camus (1913 - 1960) đóng góp một bình diện mới: bình diện chủ quan của cái phi lý.
p với cách phân tích của Kafka nhưng A.Camus cũng cho rằng phi lý cũng là kết quả của hiện tượng tha hóa. Ông cũng tiếp nối “nỗi lo. đời thường” mối lo sợ bất an dường như đeo đẳng suốt đời người khi con người bị cái phi lý giật day ciia Kafka bằng nỗi lo đồng loại trước sự hủy diệt của con người. ‘Camus timg phát biểu: “Từ cái phi lý, tôi rút ra ba điều kết luận: nổi loạn, tự do và ham mê” [12, tr25].
Từ tưởng nỗi loạn được Camus thể hiện rõ nhất qua nhân vật Meursault trong tiểu thuyét Ké xa Ja. Meursault - Mét vién chức nghèo, “sống xa lạ hơn một kẻ xa lạ” (Kafka): từ chối nhìn mặt mẹ. cuối, không khóc trong ngày đưa tang mẹ; không hẻ quan tâm tới thể giới bên ngoài như các vấn đề tôn giáo, tha nhân, quy ước xã hội; xem cuộc sống là vô nghĩa lí; bắn chết người không vì mối thủ địch nào; chết ở tuổi bảy mươi hay ba mươi đều không quan trọng. Với anh ta, cuộc đời là phi lý.
Mọi người xung quanh anh sống vì những điều phi lý: buồn chán, đau khổ, bệnh tật, tuổi già.