Chương 1: Tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam trong khuynh hướng văn học. é “Chương 2: Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - ti các kiểu nhân vật. “Chương 3: Cảm thức hiện sinh trong tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam - từ "nghệ thuật biểu hiện 10 CHUONG 1 TIEU THUYET NGUYEN DANH LAM TRONG KHUYNH HUONG VAN HQC HIEN SINH ‘THAP NIEN DAU THE Ki XXI Ở VIỆT NAM NGHIA HIEN SINH VA VAN HOC 1. Vai nết về chủ nghĩ ign sin “Chủ nghĩa hiện sinh ra đời ở Đức vào những thập niên đầu tiên của thế kỹ XX với những tr tưởng nền móng của M.
Heidegger (1889 - 1976), K Jaspers (1883 « 1969), sau đồ phát triển rực rỡ ở Pháp với những nhà văn tên tuôi như J.hình thành nên. một học thuyết có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống của con người trong xất nhiều thập niên sau. Phải nói rằng chủ nghĩa hiện sinh đã chỉ phối su sắc đồi sống tỉnh thẫn của một thể bệ Ra đời từ sau thể chiến lẫn thứ hai, tư tưởng hiện sinh là hệ quá của cả một quá trình lâu khi mà đồi sống của con người ngày càng được năng cao về mặt vật chất dẫn đến sự suy đi trong cách nhìn nhận giá trị nhân vị “Cuộc cách mạng công nghiệp, cách mạng khoa học kỹ thuật đã làm thay đổi hoàn toàn bộ mặt kinh tế của các nước phương Tây. Không thể phủ nhận xầng, sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật đã trở thành một thứ ánh sáng mới mẻ, xua tan màn đêm kéo dài hàng thể kỹ bao tràm lên các nước phương Tây.
Tuy nhiên bên cạnh những lợi ích về mặt vật chất thì càng ngày người ta cảng, nhận thấy những mặt trấi ma một xã hội kim tiền đem đến cho đời sống tỉnh thần. Con người dường như bị máy móc “nudt chimg”, sự tự động hóa, máy. móc hóa, vật hóa đã biến con người trở thành những "cỗ máy” phục vụ lại chính nền công nghiệp mà họ đã tạo ra. Một nền kinh tế sản xuất hàng hóa “hàng loạt” đã sản sinh ra những con người cũng mang tính “hàng loại”.
Con người đã dần đánh mắt bản thể, để rồi bất khả trí mọi vấn đề. Trong tiểu thuyết Ké xa Ja của A.Camus, nhân vật Meursaulttrở thành người phí lý bằng xương bằng thị, thoát khỏi huyền thoại. Meursault bắt đầu câu chuyện của mình bằng céu: "Hom nay mẹ chết. Hay có thể là hôm qua.
Tôi không biết" I0, r1]. Trong suốt hành trình tiểu thuyết, Meursault luôn luôn lấp đi lặp lại lời nói: "Tôi không bi, *Không có gì hẳt”, "Sao cũng được”, “Thì cũng thể 1i”. Một nỀn văn mình khi đã dạt đến sự cục thịnh của nó sẽ quay trở lạ hủy hoại con người, nên văn mình phương Tây cũng không nằm ngoài quy luật đó. Bởi sự phát triển khi đã đưa con người đi vào cuộc sống vật chất thì sẽ cảng rời xa các giá trí nh văn.
Dây cũng chính là mảnh đất để chủ nj hiện sinh wom mam va phát triển. Sự ra đời của học thuyết này như một hệ quả tắt yếu chống lại những học thuyết duy lý muốn chiếm lĩnh những tầm cao tr thức mà bỏ quên mắt nhân tổ quan trọng nhất tạo nên nó đó chính là con người. “Chủ nghĩa hiện sinh là tết học về con người, hướng đến con người (Quan điểm của các nhà hiện sinh có những điểm chưa thống nhất nhau, nhưng. cái đích cuối cùng mà họ muốn hướng đến vẫn là vấn đề nhân vị.
Nếu như trước đây, triết học duy lý đã bô quên vấn đề cá nhân, xã hội hóa tắt cả, đề cao tập thể, để cao tính cộng đồng thì đến lúc này chủ nghĩa hiện sinh đã tạo lập một cái nhìn hết sức mới mẻ về vấn đề con người đó là để cao nhấn vị Hiện sinh là triết học về thân phận con người, hiện sinh chỉ xuất hiện khi con người ý thức được bản thể, ý thức được mình là một chủ thé. Sartre— một trong những nhà hiện s th ndi tiếng đã khẳng định ring Hiện sinh có rước bản chất. "Trước tiền son người tồn ti, hiện điền, ra mắt, Ếp theo mới thuyết minh cho bản thân.ban đầu con người không có gì hết, chỉ về sau con người mới cần biển thành cá gỉ đó, thể là con người đựa theo ý chí của mình rma sing tao ra bn thân mình” (24, tr400), có nghĩa à, trước hết, con người phải hiện hữu đã, phải có đó, tổn tại đó rồi mới được xác định, được gọi tên. 12 Sự hiện tồn của con người là điều kiện tiên quyết cho mọi hành động về sau, rồi từ những hành động đó mới hình thành nên tính cách, chọn người mà mình muốn trở thành, tạo lập nên bản chất từng người khác nhau.
Chủ mị "hiện sinh đặt ra câu hỏi "Tôi là ai?” chứ không phải là câu hỏi “Nhân loại là 2", có nghĩa mỗi một con người là một thể giới riêng biệt, nhắn mạnh sự kỳ bí, độc đáo, không lặp lại của mỗi cá nhân chứ không ph là những con người có thể định nghĩa được, những cá nhân lặp lại nhau trong một tập thể Đến với những học thuyết của Camus, Sartre người ta chợt giật mình nhận ra ring ấy lâu nay đã bỏ quên chính bản thân mình, đánh mắt phần nhân v làm, nên cái tiêng biệt của mỗi người. Trong quan niệm cũ chủ nghĩa hi sinh, mỗi người còn là một đự phóng. Quan niệm "Thượng để đã chết” đánh thức. mọi ý thức về tính chủ thé của con người.
Con người không thể dựa dẫm niềm. tủn vào bắt kỳ điều gì nữa mà phải tự tìm con đường di cho mình. Con người phải tự nỗ lực vượt thoát, phải hành động, dấn thân. Chính sự vận động, vượt thoát đó hình thành nên một tư duy tích cực đó là luôn cố vượt lên chính bản.
thân mình, không tự bó hẹp, giới hạn mà luôn tìm cách để mình của giây phút này không trùng khít với mình của giây phút trước. Kierkegaard đã từng la to lên: "Hiện sinh, là bước ra khỏi phòng tối, là không chấp nhân cái kín cổng. cao tường, là chối từ cái im lìm, cái bắt động của cái gì đã đạt, đã xong, đã rồi, đã đủ. Sống la con đôi hỏi thêm.
Thế vẫn chưa vừa Hom nay phải khác hôm qua. Ngày sau không thể lặp y như bữa trước" [43].Con người phải trở thành chủ thể của cuộc đời họ, "tồn tại cho nó” chứ không, phải là ồ ti tự nố, cỏ nghĩa là con người sẽ tự quyết nh và tựchíu trách nhiệm về những hành động của mình chứ không phải là tổn tại một cách ngẫu nhiên, không mục dich Bản chất cuộc đời pi lý là một trong những quan điểm quan trọng của tự tưởng hiện sinh. Cuộc khủng hoảng nhiều mặt của thể kỹ XX đã hình thành 13 "nên một hiện thye v6 nghia, phi logic, phi ính, trái với năng lực nhận thức của con người. Sự đảo lộn về trật tự trong mọi mặt đời sống con người đã tạo nên những sự vật, hiện tượng trái với sự phát triển của tư duy thông thường, hoặc đúng hơn là trải với logic nhân văn tiến bộ của loài người.Camus là người đầu tiên dùng từ “phi lý” trong tác phẩm văn học — triết học Huyén thoại Siephe đễ nội về cuộc sống nhân loại.
Trong đó sự tồn tại, suy nghĩ, hành động của con người trong cuộc đời có muôn vàn những sự kiện và ấp đặt phí lý là một minh chứng cho tính chất mê cung, trừu tượng của gi trị cõi ông. Phản ứng tất yÊu trước hiện thự phi lý đồ con người cảm thấy “buồn nôn". "Buồn nôn” chính là biểu hiện của nhân vị, khi mà con người không chấp nhận hiện thực cuộc sống vô nghĩa, cam chịu như cây cỏ. Một khi con người còn cảm thấy “buồn nôn” có nghĩa là con người còn ý thức được về phần nhân vị của bản thân mình, không chấp nhận cuộc sống vô nghĩa, chống, lại sự phí lý của cuộc sống.
Trong hoàn cảnh đó con người th hiện nhân vị bằng hành động, bằng sự lựa chọn để chống lại sự phi lý. Con người trong chủ nghĩa hiện sinh chỉ đạt đến sự tự do thực sự khi chọn lựa, chính khoảnh khắc phải chọn lựa đó lúc họ có được sự tự do đích thực, Nhìn thấy sự phi lý của cuộc sống, con người trong triết học hiện sinh không tỏ ra bất lục, họ luôn tìm cách vượt thoát, tìm kiểm sự tự do cho bản thân mình. Cùng với việc đề cao tính chủ thể thuyết hiện sinh còn nhắn mạnh. đến khát vọng tự do của con người trong những trạng huống hiện sinh.
Thể nhưng khác với tự do chính trị, tự do xã hội, tự do trong chủ nghĩa hiện sinh có nghĩa là tự do lựa chọn nhân vị cho chính bản thân mình. Có thể hành động, của họ đi ngược lại với đạo lý thông thường, họ mắt đĩ tự do trong cuộc sống "hiện thực nhưng nếu đó là hành động xuất phát từ một lựa chọn thể hiện đúng phần bản chất của mình thì họ đã có được sự tự do thực sự. "Tự do, chính là khắc kho lựa chọn” - J.P Sartre đã từng khẳng định như vậy. Con người hiện 14 sinh tự do lựa chọn, tự do din thân nhưng cũng đầy lo âu, sợ hãi.
Faulkner đã nói ring: “Bi kịch của chúng ta ngày nay chính là nỗi sợ hãi ‘mang tính phổ biển và bao trìm liên quan đến thể xác, nỗi sợ hãi mà chúng ta phải chịu đựng quá lâu. Không còn vấn để tâm linh gì nữa. Câu hỏi duy nhất còn lại là: Khi nào tôi bị nổ tung đây? Nhưng cảng lo âu con người cảng phải ddắn thân vì đó là con đường duy nhất để con người có thể tìm thấy sự tự do, để thực sự là một nhân vị giữa cõi đời rông lớn này” [7, r4] “Chủ nghĩa hiện sinh như một chủ nghĩa nhân bản (Saric), chừng nào con người còn bị cuốn theo vòng xoáy của cuộc hiện sinh sẽ còn gắn a với họ. Con người cảng chạy theo những giá trị v chit thì đời sống tỉnh thần của họ sẽ ngày cảng xuất hiện nhiều lỗ hồng, những khoảng trống hãi hùng mà không một điều gì có thể khỏa lấp và chủ nghĩa hiện sinh sẽ làm phần việc của nó.
Thành công của những nhà hiện sinh là họ đã không bị chim ngập trong mớ lý thuyết về nỗi cô đơn, về cuộc sống phi ý, về nỗi sợ từ trong bản thể. mà họ đã luôn cố gắng nỗ lực tìm kiếm. một con đường đi để thoát khỏi hiện thực cuộc sống và nội tâm đầy bi kịch đó, tìm kiếm sự tự do tuyệt đối cho bản thể của mỗi con người.