Chương 1 NHỮNG TIÊN ĐÈ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ 1. Khái niệm nhân văn Nhân văn vỗn là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi khi xác định giá trị của một sự vật, một hiện tượng có liên quan đến con người. Cũng chính vì tir xưa đến nay, khái niệm này có nhiễu cách hiểu khác nhau. Dưới đây, chúngtôi chỉ xin nêu ra một số cách hiểu sơ giản và phổ dụng nhất Theo Tir điển tiếng Liệt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (Nxb Da Nẵng, 2006), khái niệm “nhân văn” được giải thích khá sơ lược: "Thuộc về văn hóa của loài người ” (tư.
Từ điển cũng đồng nhất khái niệm nhân văn và hân bản (40, tr. 710), “Tác giả Lưu Văn HÍ trong Tie didn iéng Vigt (tr. T61, Nxb Thanh Niên, 2008) cũng cho sing: “Nhân win: Thuộc về văn hoá loài người” Từ những định nghĩa trên đây có thể hiểu được rằng nhầm vấn chính là những giá trị làm nên vẻ đẹp của con người; nhn vấn gần nghĩa với nhân bản vì đều hướng tới những vẻ đẹp, những giá trị chỉ có bản thân loài người mới có. Như vậy, yếu tổ nhân văn xuất hiện củng với xã hội loài người, nhưng cho đến nay vẫn còn là một &hái niệm mở, cũng như từ xưa đến nay, con người vẫn mãi mãi đi tìm một định nghĩa về chính mình.
“Tuy nhiên, cũng chính từ sự quan tâm đến những giá tị làm nên vẻ đẹp người, khát vọng giải phóng con người ra khỏi mọi sự rằng buộc phi nhân tính, từ thé ky XVI, mot trio lưu nhân vấn chủ nghĩa đã xuất hiện ở châu Âu nhằm phản ứng quyết liệt thời Trung cỗ, với mục dich tìm biểu, tôn trọng, bao dung và để cao tắt cả những gì làm nên giá trị con người. Từ điễn thuật ngữ văn học định nghĩa: Chủ nghĩa nhân văn côn gọi là chủ nghĩa nhân đạo. Ở cấp độ thế giới quan, chủ nghĩa nhân văn là toàn bộ những nr tưởng, quan điểm, tình cảm quỷ trọng các giá tị của con người như trí tệ, tình cảm, phẩm giá, site mạnh, vẻ dep. Chủ nghĩa nhân vẫn không phải là một Khải niệm dạo đức dom thuin ma côn bao ham cá cách nhìn nhận, đánh giá con người về nhiều mặt (vị tr, vai tỏ, khả năng, bản chắt.) trong các mồi quan hệ tự nhiên, xã ội và đằng loại [21, tr 88] Theo cach hiểu trên đây, khái niệm nhấn vấn và nhân dao gần như đồng nhất, nhưng thực ra giữa nhân văn, nhân đạo, nhân bản cũng có những nét nghĩa phân biệt.
Nhân đạo có nghĩa là đạo lý lâm người, biểu hiện ở thái độ và bảnh động yêu ai, ghét ai; còn nhân văn, như trên đã nói, hướng tới ngợi ca, khẳng định, đề cao. những giá trị người; nhân bản lại mang nét nghĩa chính là lấy con người làm gốc, làm trọng. Chủ nghĩa nhân bản là chủ nghỉ coi trong con người với thực thể hiện hữu của nó - sự sống còn và bản chất người (bao gồm cả bản năng vốn. 6 va những giá tr khác).
Do đó, nối tối giá trị nhân bản là nhắn mạnh đến khía cạnh bản thé của son người. Thiếu sót cơ bản của chủ nghĩa nhân bản là cồn xem xét con người một cách trầu tượng; tách rời khỏi các quan hệ xã hội, bó hẹp con người trong bản chất sinh học nên không thể p cân các quy luật đích thực của xã hội. Di đồ dễ dàng dẫn chủ nghĩa nhân bản đến phương diện duy tâm về lịch sử Nhìn chung, nhân văn, nhân bản, nhân đạo là những khái niệm thống nhất nhưng không hoàn toàn đồng nhất. Chúng tôi đựa vào các cách hiểu trên đây để tiếp sân cảm hứng nhân văn trong sing tạo nghệ thuật và đi sâu phát hiện vẻ đẹp của ccảm hững nhân văn trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu sau 1975 1.
Khái niệm cảm hứng nhân văn Đời sống của con người thường đi liền với một trạng thải tỉnh cảm nhất định. Hing ngày, con người phải tiếp xúc, va chạm với rắt nhiều đối tượng ở thể giới bên ngoài và cảm hay cảm xúc là những rung động trong lông do tiếp xúc với sự việc hay đứng trước một đối tượng nào đó. Cùng với sự phán xét của lí trí, nh cảm với những nung động trong lòng người đông vai trồ quan trọng. quyết định đến hành, vi của con người.
Tình cảm tốt này sinh thường dẫn đến những hành vì tốt và ngược lại. Nghệ thuật là quy luật của tì cảm, cho nên sáng tác văn học cũng không đi ngoài quy luật bị chỉ phối bởi tỉnh cảm con người Muốn hiểu cảm hứng nhân văn, trước hết cần lâm rõ khái niệm căm hứng. “Cảm hứng, theo nh lý luận văn hoc R. Warren trong Ly) ludn van hoc ~ một trong những cuốn có cơ sở, có giá trị khoa học ổn định nhất trong thể ký XX - là sự hàm chứa cả vô thức và ý thức, dẫn đến trạng thái phần khích, xuất thẫn trong, sắng tạo.
‘Theo Henri Benae trong Đổ» giải ý tưởng vẫn chương (Nguyễn Thế Công dich, Nxb Giáo dục, 2008), bản chất của cảm hứng “có dể lồ một tạng thái đơn thuận từ đỗ sẽ nắy sinh sự sáng tao ma không cẳn bỏ ra nhiều công sức. Không có cảm hứng nào không được thể hiện bằng sự sáng tạo, nhươg sự sáng to chỉ có thể có được nhờ sự vận dụng những phương tiện nghệ thuật để mang đến cho tư duy một hình thái. một phong cách ” |. 445]; bởi vay, “cảm hứng trong sắng tao nghệ thuật” là cần thi, là quan trọng, nhưng chưa di [tr 446] ido trình Li luận vấn học, do Gs Hà Minh Đức chủ biên (Nxb Giáo dục, 2008) cũng đã đề cập đến khái niệm này và nhắn mạnh đến vai trồ của cảm hứng, trong sắng tạo nghệ thì Tình cảm là một trong những động lực thúc đẩy cảm hứng sing tao.
Tw tưởng sé không thể chuyễn hóa được vào hình tượng một cách nhuân nhuyễn nếu thiếu cảm hứng. Cảm hứng đã tạo nên linh hẳn của hình tượng, làm cho hình tượng trở thành một chính thê nghệ thuật sinh động. ‘Sng tạo nghệ thuật là quá trình phản ánh và tải tạo hiện thực đồng thời là quá trình tự biểu hiện, là quá trình giải bảy, chía sẻ, là sự hiện diện của nhà văn giữa cuộc đời, cho nên, một khi tắm lòng nhà văn đã thở ơ, nguội lạnh, tâm hồn đã khép kin trước cuộc đời thì khi ấy, tài năng nghệ thuật sẽ cham die (19, t. 122) Cảm hứng không phải là một trạng thái hoàn toàn cổ định.
Đã có rất nhiều người nhận a rằng, trên thể gian này, nh cảm của con người Li lều tưởng như gần gũi, quen thuộc nhưng lại khó nắm bắt nhất. Nó có thể thành rồi lại mất đi hoặc thay vào đó là trạng thi nh cảm khác. Tuy vậy, vẫn có những tỉnh cảm lồn tạo thành mạch cảm hứng chủ đạo trong quá trình sáng tạo của nhà văn. Từ đó, Từ điển thuật ngữ văn học định ns ‘Cam hing chủ đạo 1a trang thải tình cảm mank ligt, say déim xuyên suất tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tue tating xe dink, một sự đánh giá nhắt định, gây tác động đến cảm xúc của những "người tiếp nhận tác phẩm " [AI, tr.
Công trình còn nhẫn mạnh thêm: “Bé-lin- xki coi cảm húng chủ đạo là diều kiện không thể thiếu của việc tạo ra những tác phẩm đích thực, bởi nó “ biển sự chiêm lĩnh thuần ty trí óc đổi với tư tưởng thành tình yêu đổi với tự trông, mội tình yêu mạnh mề, một khát vọng nhiệt thành ” [21, tr 4) "Như vậy, có thể hiểu, cảm hứng nhân văn l tạng thái tỉnh cảm, xúc động mãnh + này sinh từ con người và những vấn đề về con người. Những biểu hiện cụ thể của cảm hứng nhân văn là yêu thương trân trọng mọi vẻ đẹp của đời sống con người, nhạy cảm với nỗi đau của từng số phân và tâm trạng của con người, tôn vinh mà không quá kỳ vọng vào con người, nhưng cũng không bao giờ đánh mắt niềm tin vào con người; quan tâm đến môi trường sống của con người (cả môi trường tự nhiên và xã hội), với mong muốn làm cho con người được sống tốt đẹp hơn. Niần văn là một khái niệm lich sử, vây cảm hứng nhân vấn cũng thay đổi và được bỗ sung không ngừng qua các thời đại 1. Nhìn lại cẩm hướng nhân vấn trong văn học Sự ra đồi của chủ nghĩa nhân văn thời Phục hưng đánh dầu một bước ngoặt ‘quan trọng trong quá trình đầu tranh giải phóng đời sống tỉnh thần và ÿ thức nhân loại.
Trong nghệ thuật, cảm hứng nhân văn trở thành định hướng thấm mĩ cho sáng tạo; và văn học với đặc trưng lấy ngôn từ lâm phương tiện biểu đạt là loại hình có khả năng biểu hiện tính nhân văn nhạy bén, trực tiếp, phong phú, đa dạng hơn cả Vi thé, p cân cảm hứng nhân văn trong tác phẩm học chính là sự khám phá những biểu hiện của tâm hồn, tình cảm nhà văn đối với con người và cuộc sống thông qua thể giới nghệ thuật 'Văn hào M.Gorki từng nói: “Vấn học là nhân hoc”. Con đường để trở thành một nhà văn chân chính, ngoài những kiến thức, vốn sống, tài năng thì bao giờ và trước tiên không thể thiểu một tắm lòng yêu thương sâu năng đối với cuộc sống và con người. "Xưa nay, “ Những nhà văn lớn trước hắt là những nhà nhân văn chủ nghĩa Ho vui cdi vui của bao người khác, đau khổ nỗi đau khổ của đồng loại, hôn hoan, sung sướng trước những đu tắt đẹp, đau khổ và phẫu nộ trước oan trái, bÃt công " 19, 122}, Nhìn lại lịch sử văn học nước ta từ văn học dân gian đến văn học viết qua các thời đại, cùng với truyền thống yêu nước chống ngoại xâm, truyền thống nhân đạo, nhân văn cao cả là hai nguồn mạch cảm hứng chủ đạo xuyên suốt tiến trình phát triển, tạo nên nhiều tác giả và tác phẩm ưu tú, đủ sức vượt qua thử thách của thời gian 13. Cảm hứng m văn trong văn học dân gian Van học dân gian Việt Nam sở hữu một kho ting truyện cỗ nhiều thể loại Trong đỏ có những thần thoại và truyền thuyết ỗi tếng như Vạc Long Quin vi Cơ, không chỉ à một huyỄn thoại giải thích nguồn gốc hình thành dân tộc với niềm tự hào nôi gi Tiên Rằng mà còn mang năng tỉnh nghĩa đổng bảo; truyền thuyết Thánh Giỏng đã làm bật sức mạnh kí tỉnh lông yêu nước và ÿ chí chiến ấu chống giặc ngoại xâm, 1g thời ‘ing là bài họct đượm tình yêu thương của.
nhân dân đã nuôi lớn người anh hùng.