CHƯƠNG 1 LÊ ĐẠT - HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO. VA NHUNG DOI MOI TRONG QUAN NIEM NGHE THUAT 1.1, LE DAT — NGUOL THO “KHONG BIET LOL VE GIA” Lê Đạt đã ra đi sau một hành trình dai cổng hiến cho nghệ thuật nhưng những nỗ lực bền bi, quyết liệt và thành quả trong quá trình ấy khiến người yêu mến còn mãi vương vấn. Lê Đạt thực sự vượt lên trên thời gian bởi người thơ ấy với bộ óc “một công trường”, chưa bao giờ đánh mắt mình trong “Mùi ấm mốc, tiếng mọt kêu cọt kẹt” (Cha zôï) trong hành trình “mở lối giữa cuộc. đời ngóc ngách” để "mỗi dòng thơ là một cây s6 méi” (Lam tho), 1.
Cuộc đời Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh ngày 10/09/1929 tại “Một tỉnh thượng du bụi đỏ - Bến Âu Lâu sông Hồng”. Nhà thơ mắt ngày 21/4/2008 tại Hà Nội “9 gác Lãn Ông - Lòng xanh xuân chờ”. Từ nhỏ, Lê Đạt đã lấy sách làm quê trong tình thương của chữ. Mối tình chữ vì thế đã theo đuổi nhà thơ đến suốt đời.
Ông từng tâm sự về điều này khi trò chuyện với phóng viên “Tuoi thơ của tôi buồn bã, cô độc, nhạt nhẽo. Tôi không thiểu thốn vật chất nhưng ít được sự chăm sóc gần gũi của cha mẹ. Thể nên tôi đọc sách rat sớm” [59] Năm 12 tuổi, Lê Đạt về Hà Nội học nội trú trường Bưởi. Cuộc sống thành thị của Lê Đạt chủ yếu điễn ra trong thư viện của ngôi trường ấy.
Năm 1945, Lê Đạt tham gia cách mạng. Năm 1948, ông là Bí thư văn nghệ của Trường Chinh. Đến năm 1949, Lê Đạt về công tác tại ban tuyên huấn của. Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam.
Gần như trong suốt quá trình hoạt động ông đều công tác ở ngành Tuyên huấn, trực tiếp theo dõi phong trào văn 10 nghệ, văn hóa và giáo dục. Vì vậy, ông có dịp tiếp xúc với hầu hết giới văn nghệ Cách mạng Việt Nam. Hòa bình lập lại năm 1954, ông về Hà Nội làm biên tập viên, bí thư chỉ bộ của báo Văn Nghé. Hành trình 30 năm ngồi dịch triển miên trong thư viện, có khi đói hoa cả mắt sau tai nạn nghề nghiệp năm 1958 không hề làm ông nản chí.
thấu những thành tựu khoa học xã hội và khoa học tự nhiên trong những năm tháng dịch ở thư viện đã góp phần kiến tạo nên một Lê Đạt uyên thâm và hiện đại đồng thời cũng là nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi thi pháp thơ của Lê. Đạt sau này. Sau hơn 30 năm bị cắm in, Lê Đạt được phục hồi tư cách hội viên Hội Nhà văn và quyền xuất bản. Năm 2007, cùng với ba nhà thơ khác của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm là Trần Dần, Phùng Quán và Hoàng Cầm, ông được nhận Giải thưởng Nhà nước.
È Văn học nghệ thuật.2008, sau chuyến đi thực tế ở Tây Nguyên, vừa về tới Hà 'Nội, Lê Đạt đột ngột qua đời. Cả đời mình, Lé Dat đã phóng túng tiếng cud “không biết lồi về già” để dù đã rời khỏi sân ga văn học nhưng cái an nhiên, tự tại, tự do "không thể tước đoạt” của Lê Dat vin di site xây dựng một vị thể đáng nễ trong văn chương Việt, để ông trở thành "loại người xưa nay hiểm, một đại trí thức, một thì sĩ tiền phong, và trên tắt cả là một người cách mạng với diy đủ ý nghĩa và vẻ đẹp của từ này” [12, tr. Những chặng đường thơ Di sản thi ca của Lê Đạt thật sự rất phong phú bởi ông đã đi đến tận cùng. cái có thể viết được và tạo ra diện mạo, giới tính, âm hưởng, độ vang vọng cũng như sức gợi cho mỗi con chữ.
Đời thơ của ông có thể chia làm ba chặng: chăng một từ sau Cách mạng tháng Tám đến trước Nhân Văn - Giai Phẩm (1955 — 1958), chăng hai từ sau Nhân [ăn - Giai Phẩm đến lúc được phục hồi tư cách hội viên Hội nhà văn (từ 1958 đến 1988) và chặng ba là khoảng. thời gian cuối đời (từ 1988 đến 2008). " Lê Đạt bắt đầu làm thơ, đặc biệt là thơ không vần từ năm 1948 và tập Tĩnh mẹ là sáng tác đầu tiên của nhà thơ. Thời gian này ông làm thơ và có ý thức cách tân thơ nhưng chưa rõ rột, vẫn chưa thoát khỏi Thơ Mới.
Từ sau Nhân văn — Giai phẩm, Lê Đạt mới có những cách tân triệt để và đóng góp, lớn cho thơ Việt Nam hiện đại 'Từ năm 1955 đến 1958, Lê Đạt học theo thơ bậc thang của Maiakovski - “nha thi sĩ hay nhất, lớn nhất của thời đại Xô Viết (Stalin). Thơ Lê Đạt chăng này thể hiện rõ thái độ dũng cảm đấu tranh cho cái mới và sự thức nhận ngôn ngữ, nóng hỗi tỉnh thần của Maiakovski “xốc tới ngày mai, xốc tới đẳng. Tính cách tân của Lê Đạt trong thơ lúc này chủ yếu là thay đổi dấu. *Thiên hạ chủ yếu làm thơ ca ngợi (dấu cộng).
Tôi chủ yếu làm thơ phê phán (đấu trừ)” [11, tr. Ngoài ra, Lê Đạt còn ảnh hưởng thơ không vẫn của nhà thơ đàn anh Nguyễn Đình Thị, nhất là ở quan niệm về chữ và tiếng trong. Hầu hết các tác phẩm giai đoạn này được đăng ở báo Nihán văn và các tập. Giai phẩm bắn mùa.
Một số tác phẩm tiêu biểu: Thể giới này là của chúng ta ~ tập thơ đầu tay của Lê Đạt xuất bản năm 1955, Bai tho trên ghế đá (1957), Cita bién (1958, tap tho in chung với Trần Dẫn, Văn Cao, Hoàng Cằm). Sau năm 1958, tức là từ sau Nhđn Văn - Giai Phẩm đến lúc được phục hồi tư cách hội viên Hội nhà văn năm 1988, Lê Đạt “lao vào cuộc hành trình lần tìm vô thức thông qua việc giải phóng ngôn ngữ”. Suốt 30 năm này, Lê Đạt chủ yếu “đu học” trong thư viện Khoa học xã hội “phải lòng” những cuốn sách diy ấp tơi thức Đông Tây kim cổ của trường Viễn Đông Bác cổ để lại Một thời gian đài băn khoăn với từng con chữ đã mở ra chân trời tư duy mới và một cái nhìn thế giới mới trong ông. Trong quá trình thiền ngẫm và nghiệm chữ ấy, Lê Đạt đã tích lũy được rất nhiều những tri thức từ các lĩnh vực như.
khoa học, triết học, văn học. Chính thuyết tương đi của Einstein, thuyết vật 12 lý lượng tử của Bohr, Heisenberg; thuyết bắt định, nguyên lý bo sung, nguyên ý loại trừ, phương pháp thử và sai, luận điểm về quá trình tự hủy của nhà nước theo tư tưởng của Marx, phân tim hoc ciia Freud đã thúc đây quá trình viết và kích thích sự thám hiểm, khả năng sáng tạo của nhà thơ. Quá trình miệt mài không ngừng nghỉ ấy khiến nhà thơ hiểu rằng “Mọi người đều biết lợi ích của cái hữu dụng, ít người biết lợi ích của cái vô dụng” (Trang Từ) và “V6 thire được cấu trúc như một ngôn nga” (Lacan) dé biết đồi “trả tính chủ động cho chữ” (Mallarmé). Vì lẽ ấy, Lê Đạt bắt đầu tập chơi chữ, ghép chữ, tập sáng tác và luôn nỗ lực tìm đến điểm tự do xa nhất mà chữ có thể đạt tới.
“Thể nghiệm thành công đầu tiên của ông trong phương thức sáng tác là tác phẩm Ông phó cả ngựa, Cửa hàng Lê Đạt sau này in trong tip thơ Đường chữ. Sau một thời gian không được chấp nhận, từ 1988 đến 2008, tác phẩm. của Lê Đạt bắt đầu được phát hành rộng rãi. Các tập thơ thể hiện sự thay đổi toàn diện trong phong cách thơ, từ bản sắc triết học đến cầu trúc hình thức và nội dung.
Thơ ông đem đến sự ngạc nhiên cho người đọc bởi nó tạo nên sự đao động giữa mỹ cảm cũ và mới, sự lưỡng lự giữa thơ và văn xuôi. Các tập thơ cho thấy Lê Đạt đã sử dụng tiếng Việt một cách thông minh, khoái hoạt, hiệu quả, tạo ra một không gian thẩm mĩ mới cho thơ. Có thể kể đến các tác phẩm: Bóng chữ (1994), Hén đại nhân (1994), Ngó lời (1991), Truyện cổ viết lại (2006), U75 từ tình (2008), Mi là người bình thường (2008), Đường chữ: (2009), Đối thoại với đời và thơ (2011), Thiết nghĩ, đời và thơ Lê Đạt chịu nhiều biến động dữ dội nhưng ông đã vượt qua những thăng trầm ấy, tạo dựng chỗ đứng vững chải trong lòng bạn đọc. Trong lúc gặp “tai nạn” nghề nghiệp, cuộc đời Lê Đạt thưa vắng những.
sự kiện lớn nhưng cột mốc ấy lại đánh dấu một sự lên đường quyết liệt dành. cho tích lũy và sáng tạo, đồng thời thể hiện sự kiên định đến phi thường của. Vì vay, tìm hiểu những bước ngoặt trong đời thơ Lê Đạt là điều thiết yếu bởi nó là cơ sở quan trọng góp phần kiến tạo hành trình thơ, quan niệm nghệ thuật và những thể nghiệm mới của ông trên con đường kiên trì chiếm Tĩnh thơ. Nietzsche: “Chất liệu đầu tiên hiển dâng cho kẻ sáng tạo.
chính là bản thân hắn ta”. NHỮNG ĐÔI MỚI TRONG QUAN NIEM NGHE THUAT Hạt nhân quan trọng trong mọi cuộc cách tân nghệ thuật chính là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật. Ý thức về điều này, trên đường đến với thi ca, Lê Đạt đã mang theo quan niệm nghệ thuật riêng, lạ lẫm mà trước đó chưa nhà thơ nào từng đề xuất. Những đối mới ấy trở thành đòn bẩy kì diệu cho sự bật này chất thơ của Lê Đạt.
Thế giới thơ của ông vì thế cũng “nới thêm trang” (Chế Lan Viên), chú trọng soi ngắm, tìm kiếm những giá trị bền vững vĩnh hằng của con người và đời sống. Theo Từ điển (luật ngữ vấn học, quan niệm nghệ thuật là “nguyên tắc cất nghĩa thể giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho. nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào 46” [15, tr. Nó chính là “hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là sự quy chiếu ẩn chim trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với các phạm trủ phương pháp sing tác, phong cách nghệ thuật, làm thành thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật” [15, tr.
Quan niệm nghệ thuật là cơ sở, nhân tố vận động, bản chất nội tại của nghệ thuật. Quan niệm nghệ thuật cũng. chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn của tác phẩm. Khoi di từ quan niệm nghệ thuật của Lê Đạt, chúng ta sẽ thấy rõ sự vận động, quyết liệt, sự chuyển đổi có tính cách mạng trong thơ ông.
Làm thơ là làm chữ “Trong sâu thẩm tâm thức Lê Đạt, làm thơ chính là làm chữ. Vì vậy, nhà thơ mạnh dạn hô hào đổi mới toàn diện thi ca, đặc biệt là đổi mới ngôn ngữ 4 thơ.