Mở đầu cho giai đoạn sau 1975 là nghiên cứu của Mai Đình Yên (1978) “Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam” đây là công trình đã tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đó, thống kê danh mục, mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và giá trị kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở miền Bắc [54]. Đến năm 1992, Mai Đình Yên cùng với cộng sự công bố thêm công trình “Định loại loài cá nước ngọt Nam bộ” với 225 loài Bồ sung cho nghiên cứu cá nước ngọt Nam bộ trong giai đoạn này là công bố của Trương Thủ Khoa và Trần Thị Thu Hương (1993) “Định loại cá nước ngọt vùng đồng bằng sông Cửu Long” [13]. Thời kỳ này các thủy vực miền Trung cũng được tập trung nghiên cứu Năm 1982 Nguyễn Hữu Dực “Thành phần loài cá sông Hương” đã thống kê 58 loài; Năm 1983 Nguyễn Thái Tự “Khu hệ cá sông Lam”; năm 1991 Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực Thành phân loài cá sông Thu Bồn với 85 loài, sông Trà Khúc với 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái với 25 loài; năm 1992 Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan với nghiên cứu thành phần loài cá các sông: sông Tiền, sông Hậu, sông Vàm Cỏ, sông Sai Gon và sông Đồng Nai với 255 loài [56] Những kết quả nghiên cứu về đặc tính sinh học của cá phải kể đến các công trình của các tác giả: Võ Văn Phú và Đặng Thị Diệu Tâm (1978) “Đặc tính sinh học của một số loài các có giá trị kinh tế ở đầm phá Thừa Thiên Huế"; Hoàng Đức Đạt, Võ Văn Phú (1980) với “Dẫn liệu về đặc tính sinh học của các Dia (Siganus Guiaus) ở đầm phá Thừa Thiên Huế" [38]; Võ Văn Phú (1991) với “Góp phần tìm hiểu đặc tính sinh học của cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus) 6 dam phá tỉnh Thừa Thiên Huế”; Võ Văn Phú (1994) với “Dẫn liệu về đặc tính sinh học của cá Căng bốn sọc (Pelafesqua drilineafus) ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế”; Võ Văn Phú (1995) với “Khu hệ cá và đặc điểm sinh học của mười loài cá kinh tế ở khu hệ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế" [12]. Từ 1996 đến 2004 các nghiên cứu được thực hiện trên cả nước, tuy nhiên các thủy vực miễn Trung và Tây Nguyên được chú trọng hơn trước: Võ Van Pha, Dang Thi Thu Hiền và Phan Văn Cư (1996) với “Đặc điểm sinh học của cá Móm gai dài (Gerres /ilamentosus) ở hệ đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế”; Vũ Trung Tạng (1997) với “Thành phần các loài cá ở đầm Trà Ô và sự biến đổi của nó liên quan tới diễn thế của đầm” [45]; Nguyễn Duy Chinh và 'Võ Văn Phú (1998) với “Nghiên cứu Sức sinh sản của cá Rô phi vẫn đơn tính trong ao nuôi ở vùng Thuận An, tỉnh Thừa Thiên Huế” [38]; Lê Như Xuân và Nguyễn Trọng Nho (1999) “Sinh học sinh sản và kỹ thuật sản xuất giống cá Sac rin (7richogaster pertoralis)°; Võ Văn Phú và Hồ Thị Hồng (2001) “Đặc tính sinh học của cá Dầy (Ciprinus centralus)”; Nguyén Thi Thu Hè (2001) “Điều tra khu hệ cá một số sông suối Tây Nguyên” có 168 loài [16].
Từ 2005 đến nay, các công trình nghiên cứu về cá được quan tâm và chú trọng góp phần vào công tác nghiên cứu phát triển và bảo về nguồn lợi thủy sản của đất nước. Và khi nói đến phân loại cá nước ngọt Việt Nam chúng. ta không thể không nhắc tới Nguyễn Văn Hảo, ông đã xuất bản công trình “Cá nước ngọt Việt Nam” gồm ba tập. Tập I xuất bản năm 2001 mô tả chỉ tiết về họ cá Chép (Cipirinidae) với 11 phân họ, 103 giống, 315 loài và phân loài [14]: tập II và tập III xuất bản năm 2005: Trong tập II ông mô tả 331 loài thuộc 109 giống, 34 họ và 10 bộ [15]; tập III gồm 378 loài thuộc174 giống, 63 họ và 12 bộ nằm trong 3 tổng bộ [16]; cá dang mang Ech (Batrachoidomorpha), cá dạng Suốt (Atherinomorpha) và cá dạng Vược (Percomorpha).
Đây được xem là bộ sách phân loại cá nước ngọt đầy đủ và chỉ tiết nhất Việt Nam hiện nay. Trong năm 2007 một loạt các nghiên cứu được thực hiện: “Kết quả bước đầu nghiên cứu sinh sản nhan tao cd Day (Ciprinus centralus)” của Nguyễn Phi Nam, Lê Đức Ngoan và Lê Văn Dân; “Tác dụng của 17a — Hydroxy - 20B — Dihydrobrogesteron lên sự chín và rụng trứng In Vivo của cá Trôi An D6 (Labeo rohita)” [38]; Võ Văn Phú cùng Huỳnh Quang Huy “Nghiên cứu đặc điểm sinh học ciia ca Diée (Carassius auratus) 6 thiy vue Thừa Thiên Huế”; Bùi Minh Thắng với “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Sinh gai (Onychostoma lariceps) ở khu vực hồ Phú Ninh tỉnh Quảng Nam”; Trần Thị Trang “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Thát lát (Notopterus notopterus) ở khu vực hồ Yaly tỉnh Kon Tum” [40]. V6 Van Phú, Hồ Thị Minh Tâm (2006) công bố “Danh mục thành phan loài cá hạ lưu sông Hồng” với 108 loài trong 74 giống thuộc 45 họ và 15 bộ. Võ Văn Phú và cộng sự (2006) công bố “Danh mục thành phan loài cá khu bảo tồn thiên nhiên Đakrông tỉnh Quảng Trị” với 100 loài trong 65 giống thuộc 19 họ và 8 bộ.
Cả hai nghiên cứu đều cho thấy bộ cá Chép và bộ cá 'Vược chiếm ưu thế nhất [38]. Năm 2008, Võ Văn Phú, Tran Thuy Cam Hà: với nghiên cứu “Đa dang thành phần loài cá ở hệ thông sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế” đã công bố 154 loài thuộc 103 giống, 51 họ và 14 bộ [37]; Võ Van Phú và Nguyễn Như Sỹ với “Thành phần loài của bộ cá Nóc ở vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế” với 20 loài; Võ Văn Phú, Nguyễn Thanh Đăng với nghiên cứu “Đa dạng thành phần loài cá ở hệ thống sông Truồi huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế” [36]; Võ Văn Phú, Hoàng Thị Long Viên nghiên cứu về “Đa dạng sinh học thành phần loại cá hệ sinh thái sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên Huế”; Nguyễn Thị Phi Loan với “Thành phần cá ở đầm Ô Loan, tỉnh Phú Yên” với 134 loài, 88 giống, 55 họ, 16 bộ [29]; Đinh Minh Quang với “Dẫn liệu về hình thành loài cá trên lưu vực sông Hậu Thuộc địa phận An Phú An Giang” đã công bố 68 loài thuộc 29 họ trong 10 bộ. Năm 2009, Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Thuận với công trình “Nghiên cứu cấu trúc thành phần loài cá ở hệ thống sông © Lâu, tỉnh Thừa Thiên Huế” gồm 109 loài, 76 giống, 31 họ trong 11 bộ [40]. Năm 2010 Võ Văn Phú, Lê Văn Quảng, Dương Tuấn Hiệp và Nguyễn Duy Thuận với “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá rạn san hô ven bờ đảo Cồn Cỏ tỉnh Quảng Trị” đã xác định được 103 loài, 62 giống, 35 họ, 10 bộ.
Năm 2011 Trần Đại Nghĩa, Võ Văn Phú 10 “Nghiên cứu khu hệ cá sông Roòn tỉnh Quảng Bình” [20]; Nguyễn Giang Nam, 'Võ Văn Phú “Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Long Đại của tỉnh Quảng Bình” xác định được 101 loài, 69 giống, 36 họ thuộc 10 bộ; Nguyễn Tuấn, Võ Văn Phú với “Nghiên cứu thành phần loài và đặc điểm phân bố của cá ở hệ thống sông Hội An tỉnh Quảng Nam” gồm 14 loài, 58 họ thuộc18 bộ [38]. Tình hình nghiên cứu cá ởtỉnh Quãng Nam Nghiên cứu đầu tiên về cá nước ngọt ở Quảng Nam do Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực tiến hành năm 1991, trong “Nghiên cứu thành phần loài cá sông Thu Bồn” công bố 58 loài [2]; tiếp sau đó, năm 1995 Nguyễn Hữu Dực với “Nghiên cứu Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung Bộ Việt Nam” với 134 loài [10]. Có thể nói từ 2004 trở về trước, nghiên cứu về cá nước ngọt của tỉnh Quảng Nam còn rất hạn chế. Trong vòng mười năm từ 1994 đến 2004 chỉ có hai nghiên cứu nhưng chưa đầy đủ.
Trong đó có nghiên cứu của Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú “Thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” gồm 71 loài nằm trong 49 giống, thuộc 19 và 9 bộ. Nghiên cứu này đã xác định được 10 loài cá có giá trị kinh tế [1]. Năm 2005, Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú, Nguyễn Hoàng Tân đã công bồ “Thành phân loài cá ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” với 83 loài, nằm trong 59 giống, 34 họ thuộc 10 bộ khác nhau, trong đó có bộ cá Vược (Perciformes) chiém ưu thế về thành phần họ, giống và loài [4] Năm 2007 đến nay đã có một số công trình nghiên cứu về nguôi lợi cá và đặc điểm sinh học của một số loài cá. Bùi Minh Thắng, Võ Văn Phú (2008): “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Sinh gai (Onychosmora latikeps) ở khu vực hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam”; Hồ Thị Nguyên Sa (2008) “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Rung (Casassioides ll cantonensis) ở hồ Phú Ninh và vùng phụ cận tỉnh Quảng Nam”; Bùi Minh Thắng, Võ Văn Phú (2008): “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái và sinh học của cá Niên (Onychostoma laticeps) tại hồ Phú Ninh và vùng phụ cận tỉnh Quảng Nam”; Văn Thị Thanh Huyền, Võ Văn Phú: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học của cá Thát lát (Nofopterus nofopterus) ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam” [1].
Nam 2009 Võ Văn Phú và cộng sự đã nghiên cứu và công bồ thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh gồm: 114 loài cá, nằm trong 9 bộ, 22 họ và 72 giống, đồng thời xác định 16 loài cá có giá trị kinh tế tại khu vực hồ Phú Ninh. Đặc biệt đã xác định 5 loài cá quý hiếm ghi vào sách đỏ Việt Nam năm 2007. Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải công bố thành phần loài cá trong hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn gồm 107 loài cá, thuộc 31 họ, 9 giống. Trong đó có 8 loài nằm trong sách đỏ Việt nam.
Ngoài ra hai tác giả còn tiến hành điều tra tình trạng nguồn lợi cá của hệ thống. Kết quả nghiên cứu cho thấy nguồn lợi đã giảm 50% so với 10 - 15 năm về trước [43]. Nam 2010, Va Thi Phuong Anh, Võ Văn phú “ Nghiên cứu khu hệ cá ở hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn thuộc tỉnh Quảng Nam” đã xác định 197 loài cá, nằm trong 15 bộ, 48 họ, 121 giống và khóa định loại, mô tả của 197 loài cá. Năm 2011 Nguyễn Tuấn, Võ Văn Phú “Nghiên cứu thành phân loài và đặc điểm phân bố của cá ở hệ thống sông Hội An, tỉnh Quảng Nam” gồm 141 loài, 58 họ thuộc 18 bộ [2].