Tổng quan nghiên cứu

Huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam sở hữu hệ thống sông ngòi phong phú cùng đường bờ biển dài 37 km và diện tích tự nhiên 533,03 km². Đây là khu vực cửa sông ven biển đặc trưng với sự giao thoa mạnh mẽ giữa khối nước ngọt từ lục địa và khối nước mặn từ Biển Đông qua hai cửa biển An Hòa và Cửa Lở. Ngành kinh tế thủy sản đóng vai trò trụ cột tại địa phương, với giá trị sản xuất năm 2010 đạt 342,440 tỷ đồng, tăng trưởng bình quân 8,48%/năm, trong đó khai thác hải sản chiếm 285,900 tỷ đồng và nuôi trồng đạt 51,040 tỷ đồng. Tuy nhiên, áp lực từ các hoạt động đánh bắt tận diệt và quá trình đô thị hóa của Khu kinh tế mở Chu Lai đã khiến nguồn lợi thủy sản tại nhiều lưu vực suy giảm ước tính lên tới 50% so với các thập kỷ trước.

Trước thực trạng đó, vấn đề nghiên cứu cấp bách được đặt ra là sự thiếu hụt các dẫn liệu khoa học cơ bản về cấu trúc thành phần loài và quy luật phân bố của khu hệ cá tại các lưu vực phía nam tỉnh Quảng Nam. Mục tiêu cụ thể của công trình là xác định chính xác danh mục thành phần loài, phân tích cấu trúc phân loại học, đánh giá đặc điểm phân bố không gian và thời gian của các nhóm cá sinh thái trên 4 hệ thống sông chính gồm sông Trầu, sông An Tân, sông Bầu Bầu và sông Trường Giang. Đồng thời, nghiên cứu nhận diện các loài cá có giá trị kinh tế và các loài nguy cấp, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và khai thác bền vững.

Ý nghĩa của đề tài được khẳng định qua việc cung cấp bộ cơ sở dữ liệu ngư loại học hoàn chỉnh với 108 loài cá được định danh, hỗ trợ trực tiếp cho các nhà hoạch định chính sách xây dựng quy hoạch bảo vệ nguồn lợi thủy sinh, góp phần đảm bảo sinh kế lâu dài cho hơn 142.020 người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết sinh thái học quần xã thủy sinh vật và nguyên lý phân vùng sinh thái vùng cửa sông nhiệt đới. Theo mô hình này, sự biến thiên của độ mặn, lưu lượng dòng chảy và nền đáy là những nhân tố sinh thái hàng đầu chi phối sự phân bố, di cư và cấu trúc thành phần loài của các quần xã cá.

Đề tài vận dụng lý thuyết đa dạng sinh học thông qua hệ số tương đồng Sorensen (1948) để lượng hóa mức độ gần gũi về mặt phân loại học giữa khu hệ cá huyện Núi Thành và các thủy vực lân cận. Bên cạnh đó, các khái niệm nền tảng bao gồm cấu trúc taxon theo hệ thống bậc thang phân loại học, nhóm cá sinh thái theo độ mặn (nước ngọt, nước lợ, nước mặn) và tiêu chuẩn đánh giá loài quý hiếm theo Sách Đỏ Việt Nam 2007 được tích hợp chặt chẽ nhằm thiết lập khung phân tích toàn diện.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa kết hợp điều tra cộng đồng trong khoảng thời gian từ tháng 4/2013 đến tháng 11/2013. Cỡ mẫu thu thập được thiết lập qua 12 trạm thu mẫu cố định ký hiệu từ D1 đến D12, trải dài từ thượng lưu các sông Trầu, Bầu Bầu, An Tân đến vùng hạ lưu sông Trường Giang và các cửa biển An Hòa, Cửa Lở. Bên cạnh đó, hơn 50 mẻ lưới định tính được thu thập trực tiếp từ hoạt động khai thác của ngư dân và hệ thống chợ thủy sản địa phương.

Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo không gian và thời gian được áp dụng triệt để. Về không gian, các điểm thu mẫu được bố trí đại diện cho 3 phân vùng sinh thái gồm vùng nước ngọt thượng lưu, vùng nước lợ trung lưu và vùng nước mặn cửa sông. Về thời gian, 2 đợt thu mẫu chính được tiến hành vào mùa khô (tháng 6/2013) và mùa mưa (tháng 10/2013). Lý do lựa chọn phương pháp chọn mẫu phân tầng là để phản ánh chính xác sự dịch chuyển độ mặn do lượng mưa trung bình năm 2.531,5 mm gây ra, khi mà lượng mưa tháng 10 và tháng 11 chiếm tới 50,4% tổng lượng mưa cả năm.

Mẫu cá sau khi thu thập được cố định bằng dung dịch Formalin 9% và lưu trữ trong formol 4% tại phòng thí nghiệm. Quá trình giám định tên khoa học dựa trên phương pháp hình thái so sánh, đo đạc 16 chỉ tiêu kích thước và đếm 5 chỉ số tia vây theo quy chuẩn của Pravdin, kết hợp hệ thống khóa phân loại của Nguyễn Văn Hảo, FAO và Eschmeyer (2005). Số liệu được xử lý bằng phần mềm Excel và phần mềm MapInfo để trực quan hóa bản đồ phân bố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả khảo sát đã xác định được khu hệ cá ở hệ thống sông huyện Núi Thành bao gồm 108 loài thuộc 84 giống, 54 họ và 20 bộ khác nhau. Cấu trúc phân loại học thể hiện sự đa dạng vượt trội của bộ cá Vược (Perciformes) khi chiếm tới 23 họ (tương đương 42,6% tổng số họ), 35 giống (chiếm 41,67%) và hơn 45% tổng số loài trong toàn khu hệ. Đứng ở các vị trí tiếp theo là bộ cá Nheo (Siluriformes) với 5 họ (chiếm 9,25%), bộ cá Chép (Cypriniformes) và bộ cá Bơn (Pleuronectiformes) cùng có 3 họ (chiếm 5,55%).

Đặc điểm phân bố sinh thái cho thấy sự phân hóa rõ rệt thành 3 nhóm loài chính. Nhóm cá nước ngọt chiếm khoảng 25% số loài, phân bố chủ yếu ở thượng nguồn sông Trầu và sông An Tân. Nhóm cá nước lợ chiếm khoảng 35% số loài, cư trú thường xuyên ở đầm phá sông Trường Giang. Nhóm cá nước mặn gốc biển chiếm khoảng 40% số loài, tập trung cao nhất tại cửa An Hòa và Cửa Lở. Tính bình quân, mỗi bộ có 2,7 họ và 5,4 loài; mỗi họ có 1,55 giống và 2 loài. Đặc biệt, có 10 bộ chỉ xuất hiện 1 họ, 1 giống và 1 loài, phản ánh tính chuyên hóa sinh thái cao.

Nghiên cứu đã ghi nhận 5 loài cá quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 gồm: Cá Chình hoa (Anguilla marmorata), Cá Chình mun (Anguilla bicolor), Cá Mòi cờ chấm (Konosirus punctatus), Cá Mòi mõm tròn (Nematalosa nasus) và Cá Măng sữa (Chanos chanos). Đồng thời, tác giả đã thống kê được 16 loài cá có giá trị kinh tế cao thuộc các họ cá Chép, cá Đối, cá Bống, cá Dìa và cá Mú, đóng vai trò chủ lực trong nguồn thu thương mại của ngư dân địa phương.

Thảo luận kết quả

Cấu trúc thành phần loài nghiêng hẳn về bộ cá Vược và các nhóm cá biển có thể được giải thích bởi đặc điểm địa hình và thủy văn của huyện Núi Thành. Các con sông tại đây đều có chiều dài ngắn từ 20 đến 40 km, diện tích lưu vực nhỏ từ 50 đến 100 km² nhưng có độ dốc trên 2%. Kết hợp với chế độ bán nhật triều có biên độ triều đạt từ 1,2 đến 2,0 m, nước mặn dễ dàng xâm nhập sâu vào nội đồng trong mùa khô, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài cá rộng muối và cá biển di cư vào sinh sống, kiếm mồi.

Khi so sánh với các khu hệ lân cận, thành phần loài cá huyện Núi Thành (108 loài) có mối quan hệ gần gũi với hệ thống sông Vu Gia - Thu Bồn (197 loài) và sông Hội An (141 loài) với hệ số tương đồng Sorensen dao động từ 0,45 đến 0,58. Sự tương đồng này bắt nguồn từ việc các sông đều thuộc mạng lưới thủy văn duyên hải Nam Trung Bộ. Ngược lại, khu hệ này có sự khác biệt rõ rệt so với hồ Phú Ninh (114 loài), nơi chiếm ưu thế tuyệt đối là các loài cá nước ngọt thuộc bộ cá Chép.

Để phục vụ công tác báo cáo và quản lý, các phát hiện nghiên cứu được mô hình hóa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu tỷ lệ các bộ cá, biểu đồ cột so sánh số lượng loài giữa mùa mưa và mùa khô tại 12 trạm khảo sát, cùng bản đồ phân vùng mật độ các loài nguy cấp bằng phần mềm không gian địa lý.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm bảo vệ tính đa dạng sinh học và phát triển bền vững nguồn lợi cá tại huyện Núi Thành, hệ thống 4 giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

Thứ nhất, tăng cường kiểm soát và cấm triệt để các hình thức khai thác mang tính tận diệt. Chi cục Thủy sản tỉnh Quảng Nam cần phối hợp với Đồn Biên phòng cửa khẩu Cảng Kỳ Hà và chính quyền huyện Núi Thành tổ chức tuần tra liên ngành, xử phạt nghiêm hành vi sử dụng kích điện, chất độc và ngư cụ lờ bát quái có kích thước mắt lưới dưới 15 mm. Mục tiêu đặt ra là giảm thiểu ít nhất 85% các vi phạm đánh bắt hủy diệt trong giai đoạn từ năm 2014 đến năm 2018.

Thứ hai, thiết lập khu bảo tồn bãi đẻ và đường di cư tự nhiên của các loài thủy sản. Cần ban hành quy chế đóng cửa đánh bắt cục bộ tại vùng cửa An Hòa và khu vực rừng ngập mặn xã Tam Giang trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm. Đây là giai đoạn sinh sản trọng điểm của các loài cá kinh tế và cá quý hiếm như Cá Măng sữa và Cá Chình hoa, hướng tới mục tiêu gia tăng 20% sản lượng cá bố mẹ tái tạo đàn tự nhiên vào năm 2020.

Thứ ba, kiểm soát nghiêm ngặt chất lượng nước và nguồn thải công nghiệp. Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai phối hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Núi Thành tiến hành thanh tra định kỳ hệ thống xử lý nước thải tại các khu công nghiệp Tam Hiệp, Tam Anh, đảm bảo 100% lượng nước thải xả ra sông Bầu Bầu và sông An Tân đạt quy chuẩn môi trường loại A trước năm 2017.

Thứ tư, xây dựng mô hình đồng quản lý nghề cá ven bờ có sự tham gia của cộng đồng. UBND huyện Núi Thành chủ trì thành lập các tổ đồng quản lý tại 6 xã ven sông, ven biển gồm Tam Hải, Tam Quang, Tam Giang, Tam Hòa, Tam Tiến và Tam Hiệp. Chương trình hướng tới đào tạo và chuyển giao sinh kế bền vững cho hơn 500 hộ ngư dân, giúp chuyển đổi từ đánh bắt ven bờ sang nuôi trồng thủy sản an toàn sinh học trước năm 2019.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị khoa học và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm sau:

Nhóm 1: Cơ quan quản lý nhà nước về nông nghiệp và thủy sản. Các đơn vị như Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam, Chi cục Thủy sản và Phòng Nông nghiệp huyện Núi Thành có thể khai thác trực tiếp danh lục 108 loài cá và bản đồ 12 trạm phân bố để xây dựng quy hoạch phân khu khai thác, xác định hạn ngạch đánh bắt và ban hành chính sách bảo vệ bãi đẻ cửa sông.

Nhóm 2: Các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Sinh thái học, Thủy sản học. Luận văn cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp hình thái học đo đạc 16 chỉ tiêu, bộ khóa định loại cá nước ngọt - nước lợ ven biển miền Trung và dữ liệu đối sánh hệ số tương đồng Sorensen cho các công trình nghiên cứu ngư loại học tiếp theo.

Nhóm 3: Các doanh nghiệp và hợp tác xã nuôi trồng thủy sản. Dữ liệu sinh thái về 16 loài cá có giá trị kinh tế như Cá Măng sữa, Cá Dìa, Cá Bống tượng giúp các cơ sở sản xuất nắm bắt mùa vụ xuất hiện con giống tự nhiên, phục vụ thuần hóa và phát triển các mô hình nuôi thương phẩm đạt quy mô hàng trăm tấn/năm.

Nhóm 4: Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo tồn thiên nhiên quốc tế. Các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học có thể sử dụng số liệu về 5 loài cá trong Sách Đỏ Việt Nam để xây dựng hồ sơ tài trợ cho các dự án phục hồi rừng ngập mặn và hệ sinh thái đầm phá tại vùng duyên hải miền Trung.

Câu hỏi thường gặp

Khu hệ cá ở hệ thống sông huyện Núi Thành có bao nhiêu loài và bộ cá nào chiếm ưu thế nhất? Nghiên cứu đã xác định được 108 loài cá thuộc 84 giống, 54 họ và 20 bộ. Trong đó, bộ cá Vược chiếm ưu thế vượt trội với 23 họ (chiếm 42,6% tổng số họ) và 35 giống (chiếm 41,67% tổng số giống). Đặc điểm này phản ánh rõ nét tính chất sinh thái của vùng cửa sông ven biển chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ bán nhật triều.

Yếu tố mùa vụ chi phối sự phân bố của các nhóm cá tại khu vực nghiên cứu như thế nào? Sự phân bố của các nhóm cá biến động rõ rệt theo 2 mùa mưa và khô. Vào mùa mưa, lượng mưa lớn chiếm 50,4% tổng lượng mưa năm làm ngọt hóa hạ lưu, đẩy nhóm cá nước ngọt mở rộng vùng phân bố ra gần cửa sông. Ngược lại, vào mùa khô, độ mặn xâm nhập sâu khiến nhóm cá nước lợ và nước mặn chiếm lĩnh trên 70% các trạm khảo sát.

Luận văn đã ghi nhận những loài cá quý hiếm nào cần được ưu tiên bảo tồn? Tác giả đã ghi nhận 5 loài cá quý hiếm nằm trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2007 gồm Cá Chình hoa, Cá Chình mun, Cá Mòi cờ chấm, Cá Mòi mõm tròn và Cá Măng sữa. Các loài này đang chịu áp lực khai thác rất lớn và cần được bảo vệ nghiêm ngặt tại các bãi đẻ tự nhiên ở cửa An Hòa và Cửa Lở.

Phương pháp nào được tác giả sử dụng để định loại cá đảm bảo độ chính xác khoa học? Tác giả áp dụng phương pháp so sánh hình thái học dựa trên việc đo 16 chỉ tiêu kích thước và đếm 5 chỉ số tia vây theo Pravdin. Kết quả đo đạc được đối chiếu với các tài liệu định loại chuẩn của Nguyễn Văn Hảo, khóa lưỡng phân của FAO và hệ thống phân loại hiện đại của Eschmeyer năm 2005.

Những giải pháp then chốt nào được đề xuất để phục hồi nguồn lợi cá tại địa phương? Luận văn đề xuất 4 giải pháp chính gồm cấm triệt để ngư cụ tận diệt mắt lưới dưới 15 mm, đóng cửa khai thác mùa sinh sản từ tháng 3 đến tháng 7 tại cửa sông, kiểm soát 100% nước thải từ Khu kinh tế Chu Lai đạt chuẩn A, và triển khai mô hình đồng quản lý nghề cá cho hơn 500 hộ ngư dân.

Kết luận

  • Luận văn đã xây dựng thành công danh lục 108 loài cá thuộc 84 giống, 54 họ và 20 bộ tại hệ thống sông huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
  • Xác định cấu trúc phân loại học mang đặc trưng cửa sông nhiệt đới với sự ưu thế tuyệt đối của bộ cá Vược chiếm 42,6% số họ và 41,67% số giống.
  • Làm rõ quy luật phân bố không gian và biến động theo mùa mưa - khô của 3 nhóm cá sinh thái tại 12 điểm thu mẫu đại diện.
  • Phát hiện 5 loài cá quý hiếm có tên trong Sách Đỏ Việt Nam và 16 loài cá có giá trị kinh tế quan trọng phục vụ sinh kế địa phương.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp kỹ thuật, quy hoạch và đồng quản lý nhằm phát triển bền vững nguồn tài nguyên thủy sản.

Đóng góp lớn nhất của công trình là lấp đầy khoảng trống dữ liệu ngư loại học tại các lưu vực sông phía nam Quảng Nam, tạo lập cơ sở khoa học tin cậy cho công tác quản lý tài nguyên. Trong giai đoạn 2015 đến 2020, các cơ quan chức năng cần tiếp tục triển khai các chương trình quan trắc sinh thái định kỳ 6 tháng/lần nhằm theo dõi biến động trữ lượng cá. Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy ứng dụng ngay bộ dữ liệu này vào các dự án bảo tồn đa dạng sinh học và quy hoạch phát triển bền vững dải ven biển miền Trung.