CHƯƠNG 1 TONG QUAN TÀI LIEU 1. Vai trò của các nhân tố sinh thái đối với đời sống cây trồng Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, ngoài việc chọn lựa các giống cây trồng. tốt thì còn cần phải chú ý đến yếu tố môi trường. Các nhân tố sinh thái đóng vai trò rất quan trọng đối với đời sống của thực vật và ảnh hưởng mạnh tới năng suất cây trồng.
Có những nhân tố chính cần quan tâm là: ~ Nhiệt độ. Vai trò của nhiệt độ đối với đời sống thực vật Nhiệt độ là nhân tố sinh thái thường xuyên có vai trò quan trọng đến đời sống, tác động trực tiếp và gián tiếp đến sự sinh trưởng, phát triển, phân bố của các sinh vật Mỗi loài sinh vật chỉ tồn tại được trong một giới hạn nhiệt độ nhất định. Nhiệt độ là nhân tổ sinh thái giới hạn đối với tắt cả sinh vật nói chung va cây trồng nói riêng [18]. Thực vật là sinh vật biến nhiệt, nên nhiệt độ có ảnh hưởng lớn đến đời sóng của cây.
Nhiệt độ của đất có ảnh hưởng rất lớn đến sự hút khoáng của rễ cây, thông qua. khả năng hút khoáng chủ động và bị động. Trong giới hạn nhiệt độ thường từ 35 đến 400C, tốc độ xâm nhập chất khoáng vào cây tăng theo nhiệt độ nhưng khi vượt quá mức độ giới hạn thì tốc độ hút khoáng lại giảm và có thể ngừng lại khi nhiệt độ đạt trên 50°C, hoặc nhiệt quá thấp từ 10 đến 12°C. Bên cạnh đó, nhiệt còn ảnh hưởng.
đến các hoạt động sinh lý của cây. Nếu nhiệt độ tăng quá cao hoặc quá tháp, các hoạt động đều sẽ bị ngừng lại [9], [18], [25] 1. Vai trò của ánh sáng đối với đời sống thực vật Ánh sáng mặt trời là nhân tố cần thiết, cung cấp năng lượng cho quá trình quang hợp của thực vật. Ánh sáng không chỉ ‘Ancả cho sự tạo thành chất hữu cơ mà còn là nhân tố ảnh hưởng quan trọng đến mọi hoạt động trong đời sống của thực vật.
Sự phụ thuộc của quá trình sinh trưởng và phát triển ở thực vật đối với nhân tố ánh sáng có tính chất rất phức tạp. Dựa vào nhu cầu ánh sáng của cây thì thực vật được chia thành hai nhóm: Thực vật ưa sáng và thực vật ưa bóng. Hai nhóm cây này có những đặc điểm khác nhau để thích nghỉ với điều kiện chiếu sáng của môi trường. Cây mọc trong bóng tối khác với cây mọc ngoài ánh sáng chẳng những về màu sắc mà còn về cấu trúc (mô xốp hơn, các tế bào dài hơn, thành tế bào mỏng hơn, các yếu tố cơ học phát triển kém hơn).
Điều này biểu hiện rõ nhất ở hiện tượng lốp đồ ở các cây họ 4 hòa thảo mọc trong điều kiện thiếu hoặc không có ánh sáng hoặc gieo quá dày. Vai trò của nước đối với đời sống thực vật Nước là thành phần không thể thiếu của tắt cả c tế bào sống, chiếm tới 80-95% khối lượng của các mô sinh trưởng, chỉ cần giảm sút một ít hàm lượng nước trong tế bào đã làm rồi loạn các chức năng sinh lí của cơ thể. Nước tham gia vào hầu hết các hoạt động sống của sinh vật: là môi trường sống của các sinh vật thủy sinh, là dung môi hòa tan được nhiều chất trong tế bào và là môi trường cho các phản ứng sinh hóa học diễn ra trong cơ thê sống. Nước là nguyên liệu cho quá trình tổng hợp và quá trình sinh lí của cơ thể sinh vật, là thành phần bảo vệ các cấu trúc sống của tế bào thông qua sự hidrat hóa, nước được hấp thụ trên bề mặt các hạt keo và trên bề mặt của các bào quan, các màng tế bào tạo thành các màng nước mỏng.
Nhờ có nước tạo nên áp suất thủy tĩnh, duy trì sức căng, độ trương của tế bảo và các mô cần thiết cho sự sinh trưởng của cơ thể sinh vật. Ngoài ra nước còn là phương. tiện vận chuyển và trao đôi chất, giữ vai trò quan trọng trong sự sinh sản và phát tan nòi giống, tham gia trao đổi năng lượng và điều hòa nhiệt độ cơ thể. Do nhu cầu nước khác nhau và do khả năng giữ nước khác nhau, các sinh vật có sự phản ứng khác nhau.
với độ âm của môi trường và có sự phân bố khác nhau trên Trái Đắt [16]. đất có tầm quan trọng rất lớn đối với sinh vật, đặc biệt là thực vật, đất thiếu nước cây không thê sinh trưởng phát triển mạnh, đất nhiều nước cây sẽ bị ngập úng. Sự thiếu hụt nước làm chậm quá trình tăng trưởng, áp suất thủy tĩnh giảm mạnh, quá trình dăn của tế bào bị ức chế, đinh sinh trưởng không tiến hành phân chia được. 'Quá trình ra hoa, kết quả cũng bị suy giảm, hạt phấn không nảy mam, ống phán không sinh trưởng được, sự thụ tỉnh không xảy ra và hạt bị lép.
Quá trình trao đôi chất lúc bị thiếu nước sẽ đảo lộn, từ trạng thái hoạt động tông hợp là chủ yếu khi đủ nước chuyển sang trạng thái phân giải khi thiếu nước. Quá trình phân giải prôtêïn va axit nucleic giải phóng và tích lũy NH› gây độc cho cây và có thể làm chết cây [26]. Vai trò của đất và giá thể đối với đời sống thực vật a. Vai trò của đất Đất vừa là giá thể cho cây đứng vững, vừa cung cấp nước và các chất khoáng cần.
thiết cho cây. Dat là môi trường sống của nhiều loại động vật và vi sinh vật. Trong đất có nhiều chất hữu cơ là xác chết của thực vật, động vật, phân động vật là các nguồn thức an phong phú cho chúng. Đất là môi trường tốt, che chở bảo vệ cho nhiều lo: lộng vật tránh các điều kiện khắc nghiệt: quá nóng, quá lạnh, thiếu nước.
Nhiều loài động vật sống từng giai đoạn hoặc suốt đời trong đó. Đất có vai trò quan trọng trong phan bé sinh vật. Đất ở các vùng, các đới khác nhau có đặc điểm khác nhau về độ sâu, độ thoáng khí, lượng nước, hàm lượng. các chất khoáng, độ chua.
đã dẫn đến sự phân bố khác nhau của các loài động, thực vat [17]. Đối với cây trồng, đặc biệt lớp đất mặt là nơi chứa chất dinh dưỡng, giữ chặt rễ cây, đồng thời là môi trường sống của các vi sinh vật có ích phân giải các chất hữu cơ cũng như các chất khó tiêu giúp rễ cây dễ dàng hấp thụ. Vai trò của các loại giá thể khác ~ Xơ dừa: Được lấy từ vỏ quả dừa, nghiền nhỏ và có thể làm khô đóng thành bánh để dễ vận chuyên và bảo quản. Trước khi sử dụng cần loại bỏ chất chát (tanin).
Xơ dừa là giá thể có khả năng giữa âm và thông thoáng khí tốt nhưng nó dễ gây úng cho một số. loại cây trồng, có pH từ 6,5 - 7, có trọng lượng riêng thấp, tinh ổn định cao. Xơ dừa có thể sử dụng đơn lẻ hoặc phối trộn với các nguyên liệu khác như than bùn, tro trấu, đất mùn theo tỷ lệ, sẽ tạo ra loại giá thể có độ tơi xóp cao, thông thoáng khí [37] - Trấu hun: Là mảnh vỏ lúa (sau khi đã lầy gạo) đem hun cháy nhưng chưa thành tro. Trấu hun là giá thể hữu cơ, thoát nước tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng Trong trấu hun chứa một lượng lớn kali có tính kiềm, có thể tái sử dụng và hoàn toàn sạch bệnh.
Trấu hun là loại phế phẩm rất phô biến trong nông nghiệp. Cũng như xơ dừa, sử dụng trầu hun làm giá thể trồng cây mang lại hiệu quả kinh tế cao [37]. ~ Phân trùn quế: Là phân hữu cơ 100% sản xuất từ phân bò theo phương pháp. Dinh dưỡng được tạo ra từ chất thải các con giun quế sống trong đất Phân bò tươi được đưa vào chuồng ủ cấy giống trùn quế sau quá trình xử lý sẽ cho ra phân trùn thô.
Phân có chứa Axithumic và Fulvic giúp cho bộ rễ của cây phát triển tăng khả năng hấp thu dinh dưỡng. Tăng sức đề kháng cho cây khỏi các loại sâu bệnh và thời tiết khắc nghiệt. Trùn Quế tiết ra chất nhảy làm thăng bằng độ âm của đất, việc đào xới của Trùn Quế giúp đất được lưu thông khí cây sẽ phát triển tốt hơn [48]. Giá thể làm giá đỡ cho cây, cung cấp ẩm độ, độ thoáng khí và cải thiện độ pH, đồng thời cung cấp các chất dinh dưỡng đề thích hợp với từng đối tượng cây trồng, có thể dùng riêng lẻ hoặc phối trộn các loại giá thê để tăng hiệu quả sử dụng đối với từng.
loại cây khác nhau [37] 1. Vai trò của phân bón đối với đời sống thực vật a. Phân đa lượng Dam, lân, kali là những nguyên tố dinh dưỡng chủ yếu, cây cần rất nhiều, song. trong đắt lại thường ít hoặc nằm dưới dạng cây không đồng hoá trực tiếp được.
~ Vai trò của phân đạm Dam là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với các cơ thê sống vì nó là thành phần cơ bản của các protein - chất cơ bản biểu hiện sự sống. Đạm nằm trong nhiều hợp chất cần thiết cho sự phát triển của cây như diệp lục và các enzim, các bazơ có đạm, thành 6 phần cơ bản của axit nucleic, trong dé ADN, ARN của nhân tế bào, nơi khu trú các thông tin di truyền, đóng vai trò quan trọng trong việc tông hợp prôtein. Đạm là yếu tố cơ bản của quá trình đồng hoá cacbon, kích thích sự phát triển của bộ rễ và việc thu hút các yếu tố dinh dưỡng khác. ~ Vai trò của phân lân Trong cây tỉ lệ lân biến động từ 0,08 - 1,4 % so với chất khô.
Tỉ lân cao trong hạt, thấp trong thân lá, trong cây bộ Đậu cao hơn trong cây thân thảo. Trong cây, lân chủ yếu nằm ở dạng hữu cơ, phần rất nhỏ nằm ở phân vô cơ. Phân lân có tác dụng tốt trong quá trình phân bao, tổng hợp chất béo và protéin; thúc đầy ra hoa hình thành quả, quyết định năng suất và phẩm chất thu hoạch; hạn chế tác hại của việc bón thừa đạm; thúc đây việc ra rễ, đặc biệt là rễ bên; làm tăng độ vững chắc của thân, chống lốp đổ. Trong thành phần của axit nucleic, phospho (lân) là thành phần không thể thiếu và chiếm khoảng 20% (quy vé P2Os).
Axit nucleic tn tại trong mọi tế bảo và trong tất cả các mô và bộ phận của cây. Phospho còn có trong thành phần của rất nhiều vật chất khác của cây như phitin, lexitin, saccarophosphat v. các chất này đều có vai trò quan trọng trong thực vật nói chung. Ngoài ra trong cơ thể sinh vật, các liên kết phosphat và các hợp chất cao năng như ATP, GTP, XTP.
là những thành phần không thẻ thiếu trong quá trình trao đôi và dự trữ năng lượng.