CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về năng lực và dạy học phát triển năng lực ở trường tiểu học 1. Khái quát chung về năng lực a) Khái niệm Năng lực (NL) là một phạm trù từng được bàn đến trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Đã có nhiều định nghĩa khác nhau về NL.
Theo Từ điển tiếng Việt [27, tr.660-661], NL có nghĩa là: a) Khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó. b) Phẩm chất tâm lí và sinh lí tạo cho con người khả năng hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao. Hiểu theo nét nghĩa thứ nhất, NL là một khả năng có thực, được bộc lộ ra thông qua việc thành thạo một hoặc một số kĩ năng nào đó của người học. Hiểu theo nét nghĩa thứ hai, NL là một cái gì đó sẵn có ở dạng tiềm năng của người học có thể giúp họ giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống.
Như vậy, từ hai nét nghĩa trên, chúng ta có thể hiểu NL là một cái gì đó vừa tồn tại ở dạng tiềm năng vừa là một khả năng được bộc lộ thông qua quá trình giải quyết những tình huống có thực trong cuộc sống. Khía cạnh hiện thực của NL là cái mà nhà trường phổ thông có thể tổ chức hình thành và đánh giá HS. Khái niệm NL trong chương trình GDPT được hiểu như sau: “Năng lực là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí,. thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
” [6] Có thể nhận thấy mặc dù cách trình bày về khái niệm NL có khác nhau nhưng điểm chung cốt lõi của các tài liệu trên là đều hiểu “năng lực” là sự tích hợp của nhiều thành tố như tri thức, kĩ năng, sự sẵn sàng hoạt động, khả năng hợp tác, khả năng huy động những nguồn thông tin mới của học sinh để giải quyết những vấn đề, tình huống xảy ra trong cuộc sống. Từ đây, chúng ta có thể nhận định rằng NL phổ thông của HS chính là khả năng vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả những vấn đề có thực trong cuộc sống của các em. b) Vấn đề phân loại năng lực Hầu hết các nhà nghiên cứu giáo dục đều thống nhất phân biệt hai loại NL là năng lực chung (general competence) và năng lực cụ thể, chuyên biệt (specific competence). NL chung là NL cơ bản, thiết yếu đối với mọi cá nhân để sống và làm việc bình thường trong xã hội.
NL chuyên biệt là NL riêng được hình thành và phát triển do một lĩnh vực, môn học nào đó. Đối với GDPT đều cần xác định rõ nhiệm vụ và sự cần thiết phải bồi dưỡng những NL chung cho mọi HS và tạo mọi điều kiện để những HS có năng khiếu phát triển NL chuyên biệt phù hợp với thiên hướng của họ. Với nhiệm vụ này, GDPT môn Ngữ văn cần tập trung phát triển các NL chung, như: NL hợp tác; NL giao tiếp; NL tìm kiếm, tổ chức, xử lí thông tin; NL sử dụng công nghệ; NL phát hiện và giải quyết vấn đề, đặc biệt là NL đối phó với các vấn đề thực tiễn trong cuộc sống. Song song với các NL chung đó, môn Ngữ văn phải hướng đến bồi dưỡng và phát triển cho HS những NL chuyên biệt cần có, gồm: NL ngôn ngữ (NL sử dụng tiếng Việt); NL văn học (gồm NL tiếp nhận văn bản hay NL đọc văn và NL tạo lập văn bản hay NL làm văn).
Vấn đề dạy học phát triển năng lực trong trường tiểu học Dạy học theo định hướng phát triển NL là mô hình dạy học nhằm phát triển tối đa NL của người học, trong đó người học tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người dạy. Đó là quá trình dạy học gắn liền lí thuyết với thực tiễn, đề cao tính tự học, có sự phối kết hợp của nhiều lực lượng giáo dục nhằm phát triển toàn diện NL và phẩm chất người học. Bước sang thế kỉ XXI, tốc độ phát triển của xã hội hết sức nhanh chóng với những biến đổi liên tục và khôn lường; để chuẩn bị cho thế hệ trẻ đối mặt và đứng vững trước những thách thức của đời sống, vai trò của giáo dục trở nên vô cùng quan trọng. Giáo dục trong thời đại mới cần trang bị cho người học những kiến thức, kĩ năng và nhận thức về một thế giới rộng lớn, từ đó tạo ra những công dân toàn cầu.
Đặc trưng cơ bản của dạy học phát triển NL ở các bậc học phổ thông trong đó có bậc Tiểu học là người GV đóng vai trò tổ chức hoạt động giúp HS tự khám phá kiến thức, vận dụng sáng tạo các kiến thức đã học; định hướng cho HS cách tư duy, phân tích, tổng hợp. để dần hình thành và phát triển khả năng sáng tạo ở các em. Các hoạt động học tập chú trọng tổ chức phối hợp giữa hoạt động cá nhân và hợp tác nhóm. Yêu cầu cần đạt của mỗi bài học được xác định rõ về phát triển kiến thức, kĩ năng và năng lực, phẩm chất người học.
Theo đó, HS có thể tự đánh giá và đánh giá bạn mình sau mỗi giờ học. Người viết đã tiến hành so sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng phát triển NL và khái quát qua bảng sau: Bảng 1. Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực CT định hướng phát triển CT định hướng nội dung năng lực Mục tiêu Mô tả không chi tiết và không Mô tả chi tiết và có thể quan sát, nhất thiết phải quan sát, đánh đánh giá được; thể hiện mức độ giá được. tiến bộ của HS một cách liên tục.
Nội dung Nội dung được quy định chi Chương trình không quy định tiết trong chương trình và dựa chi tiết mà chỉ quy định những vào các khoa học chuyên môn, nội dung chính. Lựa chọn nội không gắn với các tình dung gắn với các tình huống CT định hướng phát triển CT định hướng nội dung năng lực huống thực tiễn. thực tiễn nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định. Phương GV là người truyền thụ kiến GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ pháp dạy thức, là trung tâm của quá trình trợ.
HS tự lực và tích cực lĩnh học dạy học. HS tiếp thu thụ động hội tri thức. Chú trọng sự phát những tri thức được quy định triển khả năng giải quyết vấn đề, sẵn. khả năng giao tiếp của HS.
Hình thức Chủ yếu dạy học lí thuyết trên Đa dạng, chú ý các hoạt động dạy học lớp học. ngoại khóa, nghiên cứu khoa học, trải nghiệm sáng tạo, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy và học. Đánh giá Tiêu chí đánh giá được xây Tiêu chí đánh giá dựa NL đầu ra, kết quả học dựng chủ yếu trên sự ghi nhớ có tính đến sự tiến bộ trong quá tập và tái hiện nội dung đã học. trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng các tình huống trong thực tiễn.
Chương trình GDPT nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam đã có sự chuyển đổi dần từ nền giáo dục cung cấp nội dung sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành NL hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học. Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung và đổi mới PPDH ở Tiểu học nói riêng là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển NL hành động, NL cộng tác làm việc của người học. Đó cũng là những xu hướng tất yếu trong cải cách PPDH ở mỗi nhà trường. Một số vấn đề về giao tiếp và năng lực giao tiếp Khái niệm giao tiếp Giao tiếp là nhu cầu tất yếu của cuộc sống con người.
Trong cuốn giáo trình Giản yếu về ngữ dụng học, Giáo sư Đỗ Hữu Châu viết: “Giao tiếp là một quá trình trao đổi thông tin (bao gồm cả tri thức, tình cảm, thái độ, ước muốn, hành động,.) giữa ít nhất hai chủ thể giao tiếp (kể cả trường hợp một người giao tiếp với chính mình) diễn ra trong một ngữ cảnh và một tình huống nhất định, bằng một hệ thống tín hiệu nhất định” [7; tr. Với cách hiểu như trên, có thể thấy giao tiếp đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với cuộc sống con người. Thông qua giao tiếp, con người truyền đạt cho nhau những nhận thức, tư tưởng, bày tỏ tình cảm, thái độ. Giao tiếp cũng tạo ra những biến đổi về nhận thức, tình cảm, hành động của con người.
Trong cuộc sống xã hội, con người tạo ra và sử dụng nhiều loại phương tiện giao tiếp khác nhau như: động tác, cử chỉ, dấu hiệu và ký hiệu, âm nhạc, hội họa và điêu khắc. nhưng ngôn ngữ là phương tiện chính giúp con người có thể trao đổi nhiều nội dung một cách phong phú và hiệu quả. Giao tiếp là chức năng quan trọng, chủ yếu nhất của ngôn ngữ. Các nhân tố giao tiếp như: nhân vật giao tiếp, phương tiện giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp luôn tác động, hỗ trợ nhau và đều có ảnh hưởng đến hiệu quả giao tiếp.
Năng lực giao tiếp Năng lực giao tiếp (NLGT) là sự kết hợp phức tạp bao gồm các NL hiểu biết về ngôn ngữ và sự vận dụng chúng vào lời nói giao tiếp. Dần theo luận án của Lê Thị Minh Nguyệt [23], NLGT được thể hiện ở năm khía cạnh như sau: - Năng lực diễn ngôn (discourse competence): khả năng sắp xếp, tổ chức từ ngữ, cấu trúc để tạo được một diễn ngôn có tính liên kết và mạch lạc. - Năng lực ngôn ngữ (linguistic competence): các kiến thức về hệ thống ngôn ngữ, như kiến thức về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, chính tả,. làm cơ sở để thực hiện giao tiếp dưới hình thức văn bản (diễn ngôn) nói cũng như viết.
- Năng lực hành động lời nói (actional competence): khả năng biểu đạt ý định bằng hình thái ngôn ngữ thích hợp dựa trên kiến thức về chức năng ngôn ngữ và hành động lời nói (speech act). - Năng lực văn hóa - xã hội (socio-cultural competence): khả năng biểu đạt hành động lời nói một cách phù hợp trong bối cảnh văn hóa - xã hội cụ thể.