chương I, điều 2 nói rõ nhiệm vụ trường. mam non: ~ Tổ chức thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi theo chương trình giáo dục mầm non do Bộ trưởng Bộ Giáo. 15 dục và Đào tạo ban hành. ~ Huy động trẻ em lứa tuổi mầm non đến trường; Tổ chức giáo dục hoà nhập.
cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em khuyết tật ~ Quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên để thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em. ~ Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật ~ Xây dựng cơ sở vật chất theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá hoặc theo. yêu cầu tối thiểu đối với vùng đặc biệt khó khăn. ~ Phối hợp với gia đình trẻ em, tô chức và cá nhân để thực hiện hoạt động.
chăm sóc, nuôi đưỡng và giáo dục trẻ em. ~ Tổ chức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và trẻ em tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng. ~ Thực hiện kiểm định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em theo quy định. ~ Thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn khác theo quy định của pháp luật [2] 1.
Vai trò, đặc điểm của gia đình ‘Theo tir điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ (2010) thì “Gia đình là một tap hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái” [40] *Vị trí, vai trò của gia đình Các nhà nghiên cứu thường quan niệm gia đình là tế bào của xã hội, nơi chứa đựng và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống, cái nôi của giáo dục nhân cách con người, tính người và tình người, giáo dục hành vi ứng xử văn hóa con người. Gia đình chứa đựng tắt cả các quan hệ của xã hội và thực hiện tất cả các chức. năng cần thiết cho sự tồn tại, vận động và biến đổi xã hội. Gia đình là nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của xã hội, sự hoàn thiện của mỗi cá nhân thông qua việc.
thực hiện các chức năng, trong đó chức năng quan trọng là chăm sóc, giáo dục con cái. Thực hiện tốt chức năng chăm sóc, giáo dục con cái không chỉ đem lại thành quả cho chính gia đình mà còn góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục của đất nước, sự tồn tại và phát triển của xã hội. *Đặc điểm của gia đình Đối với giáo dục, gia đình vừa là môi trường xã hội hóa, vừa là thiết chế trực. tiếp thỏa mãn nhu cầu học tập của trẻ.
Chưa đến tuôi đi học, trẻ được gia đình trực. 16 tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Đến tuôi lọc, trẻ được nhận sự giáo duc it nhất từ ba phía: nhà trường, gia đình và xã hội. Trong đó,giáo dục nhà trường và gia đình vẫn là chủ yếu.
Giáo dục gia đình có đặc trưng là giáo dục của cha mẹ với con cái nhằm hình thành năng lực, phẩm chất nhân cách. Nhưng quá trình giáo dục gia đình có thể thường xuyên, liên tục, được tổ chức một cách khoa học hay không lại hoàn toàn phụ thuộc vào sự quan tâm, trình độ hiểu biết, khả năng kinh nghiệm, hoàn cảnh. của gia đình. Giáo dục gia đình là cơ sở giáo dục đầu tiên, lâu đài và toàn diện, phù hợp với đặc điểm tâm sinh của từng lứa tuổi Giáo dục gia đình mang tính cá biệt rõ rệt, dựa trên cơ sở của cuộc sống tự nhiên, cởi mở trong gia đình.
Mỗi cá nhân thường sống lâu đài trong gia đình nên rất thuận lợi cho việc giáo dục của gia đình đối với cá nhân đó. Gia đình giáo. dục con em mình từ mọi khía cạnh của cuộc sống và trong các mồi quan hệ vô cùng. Cơ sở vật chất, trình độ văn hóa, sự hiểu biết của cha mẹ, nề nếp, truyền.
thống của gia đình, quan hệ ông bà, cha mẹ và con cái,. có tác động lớn đến quá trình học tập của con cái. Trẻ sống với gia đình từ ấu thơ đến khi trưởng thành, tiếp. thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình suốt một thời gian dài nên trẻ có được những tình cảm mang tính huyết thống, tính sâu sắc.
Đó là phương tiện thuận lợi để gia đình giáo dục trẻ. Tuy nhiên, chính tình cảm này cũng làm cho giáo dục gia đình đôi khi thiếu nghiêm khắc, thậm chí làm cho trẻ trở nên không ngoan. Động cơ thúc đẩy cha mẹ và các thành viên khác trong gia đình thực hiện nhiệm vụ giáo dục con cái không chỉ do trách nhiệm mà pháp luật đã quy định, mà còn xuất phát từ tình cảm, lòng yêu thương con em mình, luôn muốn con. em mình trưởng thành nên gia đình luôn tạo điều kiện tốt nhất trong chừng mực có thể để con em mình được học tập và rèn luyện đề trở thành người tốt, có ích cho xã hội.
Vì vậy, giáo dục gia đình có điểm mạnh là mang tính tình cảm, xúc cảm nên có khả năng cảm hóa rất lớn. Cé thể nói những đặc điểm trên là mặt mạnh của giáo dục gia đình, góp phần bổ sung những điểm yếu của giáo dục nhà trường. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân mà giáo dục gia đình ở lứa tuổi mằm non còn có những hạn chế nhất định như: ~ Chế độ sinh hoạt của trẻ mỗi ngày tùy tiện, không theo lịch trình cụ thé; ~ Ép trẻ ăn, uống quá nhiều hoặc không đúng cách dẫn đến trẻ suy dinh 7 dưỡng hay dư cân béo phì; ~ Đề cao việc chăm sóc hơn việc rèn kĩ năng cho trẻ; ~ Cách thức chăm sóc, giáo dục trẻ của cha mẹ, ông bà hay các thành viên khác trong gia đình không thống nhất; ~ Nhiều gia đình tổ chức hoạt động giáo dục không thường xuyên, liên tục, nội dung giáo dục chưa toàn điện; ~ Một số gia đình còn phối hợp rất ít với nhà trường trong việc giáo dục con cái, ngoài việc đến họp phụ huynh học sinh thì việc giáo dục hầu như được. “khoán trắng” cho nhà trường, ÿ lại cho nhà trường; ~ Một số gia đình do thiếu hiểu biết về tâm lí lứa tuổi, kiến thức giáo dục và quá nuông chiều con cái dẫn đến những hành vi đi ngược lại với tác động giáo.
dục trẻ từ phía nhà trường, làm hạn chế không nhỏ đến kết quả của quá trình giáo. dục nhà trường. Qua phân tích trên có thể nhận định rằng: giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình đều có mặt mạnh và mặt hạn chế. Vấn đề đặt ra là làm thế nào đề kế thừa, phát huy ưu điểm đồng thời khắc phục hạn chế nhằm tạo điều kiện thuận lợi nhất, tạo môi trường giáo dục lành mạnh để giúp học sinh hình thành và phát triển nhân cách toàn diện.
Mặt khác giáo dục nhà trường và giáo dục gia đình là hai “mắt xích” quan trọng trong quá trình giáo dục, nếu thiếu một trong hai yếu tố này. thì không thể tạo ra “sản phẩm con người” như mong muốn. Vì vậy, nhà trường cần tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường va gia đình để thực hiện được sự thống nhất trong nhận thức và hành động giáo dục. theo cùng một hướng, đồng tâm hợp lực, tránh sự tách rời “trống đánh xuôi, kèn.
thôi ngược”, sự mâu thuẫn và vô hiệu hóa lẫn nhau, luôn thống nhất về định hướng. nhưng vẫn đa dạng về hình thức theo đúng đặc thù của mỗi loại hình giáo dục gia đình và nhà trường Ở gia đình, trẻ tiếp thu sự giáo dục của ông bà, cha mẹ và các thành viên khác. Trẻ sống với gia đình cho đến khi trưởng thành nên trẻ tiếp thu những hành vi, ứng xử của các thành viên trong gia đình và có tình cảm mang tính huyết thống sâu sắc. Đây chính là những phương tiện thuận lợi dé gia đình giáo dục trẻ.
Đến tuổi di học, việc hướng dẫn trẻ thực hiện các hoạt động học tập ở nhà của gia đình là điều kiện để giáo dục trí tuệ cho trẻ. Việc giáo dục đạo đức ở gia đình luôn gắn với truyền thống của gia đình, những nề nếp, gia phong ảnh hưởng. 18 sâu sắc đến tâm hồn và nhân cách của trẻ. Câu thành ngữ: iên học lễ - Hậu học văn” đã phần nào cho thấy việc giáo dục đạo đức trong gia đình rất quan trọng và được thực hiện sớm nhất ‘Thong qua quan điểm, nhận thức về cái đẹp của các thành viên trong gia đình, trẻ cũng cảm nhận và hình thành được.kiến thức, quan niệm về thâm mĩ.
dục thể chất của gia đình, thể hiện dầu tiên là chăm sóc sức khỏe cho trẻ. Cha me nuôi con khỏe, giúp con nhận thức, biết giữ gìn và bảo vệ sức khỏe trong học tập và sinh hoạt đề có một cơ thể khỏe mạnh về cả thê chat va tinh than sau nay. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh, gia đình giúp trẻ chọn lựa những hoạt động, những công việc phù hợp với lứa tuổi, với khả năng của trẻ; giáo dục trẻ hiểu được ý nghĩa của công việc đang làm từ đó trẻ thấy được niềm vui, ý nghĩa của công việc và định hướng được nghề nghiệp cho tương lai mai sau. Lý về sự phối hợp giữa trường mầm non và gia đình trong công.
tác chăm sóc, giáo dục trẻ 1. Khái iệm và ý nghĩ sự phối hợp. * Khái niệm Trong các công trình nghiên cứu về mồi quan hệ giữa nhà trường và gia đình. trong quá trình giáo dục học sinh, các tác giả đã sử dụng nhiều khái niệm như: “hợp tác”, “kết hợp”, “thống nhất”, “liên kết”, “phối hợp”.
Các từ này được từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (2010) định nghĩa ~ Hợp tác: là chung sức, trợ giúp, qua lại với nhau. ~ Kết hợp: là gắn chặt với nhau đề bô sung cho nhau. ~ Thống nhất: là hợp lại thành một khối. ~ Liên kết: là kết hợp nhiều thành phần, nhiều tô chức đề thực hiện.
~ Phối hợp: là cùng hành động, hoạt động hỗ trợ lẫn nhau [40]. Các khái niệm trên có nghĩa gần giống nhau. Tuy nhiên khái niệm “phối hợp” phản ánh một cách bản chất về tính thống nhất, chặt chẽ, liên tục, toàn vẹn của quá trình giáo dục. Phối hợp là sự liên kết giữa những người hay nhóm người hoặc những tổ chức lại với nhau nhằm tiến hành một hoạt động để đạt được.
mục đích nào đó.