Tổng quan nghiên cứu

Ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là xu thế tất yếu nhằm hiện đại hóa nền giáo dục quốc dân theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW và Quyết định số 1755/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, hướng tới mục tiêu 100% các cơ sở giáo dục đổi mới phương thức quản lý và giảng dạy. Tại huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, mạng lưới giáo dục trung học cơ sở trong giai đoạn 2011 - 2016 gồm 16 trường (gồm 14 trường trung học cơ sở và 2 trường liên cấp tiểu học - trung học cơ sở) với 130 lớp học và 4.261 học sinh. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và nhân viên toàn khối đạt 409 người, trong đó có 406 người thuộc biên chế chính thức và 383 người đã sở hữu chứng chỉ tin học. Mặc dù 100% các xã, thị trấn trên địa bàn huyện đã đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở với tỷ lệ học sinh tốt nghiệp hàng năm đạt từ 98% đến 99%, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn, mang tính tự phát và thiếu tính bền vững.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ khoảng cách giữa nhận thức lý luận và năng lực thực tế trong việc khai thác công nghệ của đội ngũ sư phạm, từ đó giải quyết tình trạng thiếu hụt trang thiết bị kỹ thuật đồng bộ. Mục tiêu cụ thể của công trình là hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý giáo dục, khảo sát toàn diện thực trạng tại các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Linh và xác lập hệ thống giải pháp quản lý khoa học, khả thi. Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu thể hiện qua việc cung cấp các biện pháp quản lý trực tiếp nhằm nâng cao chỉ số kỹ năng ứng dụng phần mềm chuyên môn của giáo viên từ mức trung bình 3,19 điểm lên mức khá giỏi trên 4,20 điểm, đồng thời thúc đẩy tỷ lệ học sinh thường xuyên ứng dụng công nghệ thông tin trong tự học từ mức 45,00% lên trên 80,00% trong giai đoạn phát triển tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp các lý thuyết quản lý hiện đại và khoa học giáo dục chuyên sâu. Trọng tâm lý thuyết bao gồm mô hình quản trị tổ chức của John Kotter (1990) nhấn mạnh bốn chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, chỉ tiêu ngân sách, tổ chức thực thi và kiểm soát giải quyết vấn đề. Luận văn vận dụng khung lý thuyết quản lý giáo dục ở hai cấp độ vĩ mô và vi mô của tác giả Nguyễn Phúc Châu, kết hợp quan điểm quản lý nhà trường của tác giả Phạm Minh Hạc và Nguyễn Thị Mỹ Lộc. Đồng thời, nghiên cứu lấy định hướng bốn trụ cột giáo dục của UNESCO (học để biết, học để làm việc, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình) làm nền tảng triết lý để định hình mối quan hệ tương tác giữa dạy và học.

Khung lý thuyết vận hành xoay quanh 4 khái niệm khoa học chủ đạo:

  • Quản lý giáo dục: Hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến toàn bộ các mắt xích nhằm huy động và điều phối tối ưu các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực, thông tin).
  • Quản lý nhà trường: Sự tác động tự giác của Ban Giám hiệu lên tập thể sư phạm và học sinh nhằm hiện thực hóa mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo dục.
  • Hoạt động dạy học: Quá trình tương tác biện chứng giữa hoạt động giảng dạy giữ vai trò chủ đạo của giáo viên và hoạt động học tập tích cực, tự giác của học sinh.
  • Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học: Việc tích hợp các công cụ kỹ thuật số, phần mềm dạy học, máy chiếu, mạng internet và học liệu số nhằm tối ưu hóa việc truyền tải kiến thức, đổi mới phương pháp giảng dạy và đánh giá người học.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ cuộc khảo sát thực địa thông qua 228 phiếu điều tra câu hỏi và các biên bản phỏng vấn sâu, bao gồm 18 cán bộ quản lý (đạt 100% mẫu đại diện lãnh đạo các trường), 90 giáo viên trực tiếp đứng lớp và 120 học sinh tại các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Linh. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng kết hợp ngẫu nhiên, đảm bảo tính đại diện cho cả khu vực trung tâm đồng bằng lẫn các xã vùng sâu, vùng cồn bãi ven biển khó khăn.

Phương pháp phân tích số liệu sử dụng toán thống kê kết hợp phần mềm Microsoft Excel để định lượng hóa các tiêu chí trên thang đo Likert 5 mức độ: từ 1 điểm (còn nhiều yếu kém), 2 điểm (chưa đạt yêu cầu), 3 điểm (trung bình), 4 điểm (khá), đến 5 điểm (tốt). Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm đảm bảo tính khách quan, chuyển hóa các nhận định sư phạm định tính thành các chỉ số điểm trung bình toán học tin cậy, phục vụ việc đối chiếu giữa nhận thức của nhà quản lý và hành vi thực tiễn của giáo viên. Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được hoàn thành đồng bộ trong năm học 2015 - 2016.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế mang lại những phát hiện định lượng quan trọng về mức độ sẵn sàng và năng lực ứng dụng công nghệ tại địa phương:

Thứ nhất, về mặt nhận thức, có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm đối tượng. 100% cán bộ quản lý đánh giá việc ứng dụng công nghệ thông tin là rất cần thiết (66,67%) và cần thiết (33,33%). Trong khi đó, ở đội ngũ giáo viên, tỷ lệ đánh giá rất cần thiết chỉ đạt 30,00%, cần thiết là 50,00%, nhưng vẫn còn 20,00% cho rằng ít cần thiết hoặc không cần thiết. Đối với học sinh, 45,00% nhận định rất cần thiết, 39,17% nhận định cần thiết và 15,83% chưa thấy rõ tầm quan trọng.

Thứ hai, năng lực thực hành công nghệ thông tin của giáo viên chỉ đạt mức khá ở các thao tác cơ bản và sụt giảm ở các kỹ năng sư phạm chuyên sâu. Kỹ năng trao đổi thông tin qua internet được cán bộ quản lý đánh giá đạt 4,00 điểm (giáo viên tự đánh giá 3,63 điểm); kỹ năng sử dụng máy tính đạt 3,56 đến 3,63 điểm. Tuy nhiên, kỹ năng sử dụng phần mềm dạy học chuyên môn chỉ đạt mức trung bình 3,19 đến 3,28 điểm; xây dựng kho tư liệu số chỉ đạt 3,23 đến 3,28 điểm; và việc nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm công nghệ đạt mức thấp nhất với 3,17 đến 3,20 điểm.

Thứ ba, thực trạng ứng dụng công nghệ của học sinh còn thụ động. Chỉ có 14,17% học sinh ứng dụng công nghệ thông tin rất thường xuyên và 30,83% thường xuyên vào học tập. Ngược lại, có tới 55,00% học sinh thừa nhận ít thường xuyên (37,50%) hoặc hoàn toàn không ứng dụng (17,50%). Dù vậy, có đến 80,00% học sinh khẳng định môn Tin học là rất hữu ích (36,67%) và hữu ích (43,33%).

Thứ tư, hạ tầng công nghệ thông tin tồn tại nghịch lý lớn. 100% các trường đều có kết nối mạng internet cáp quang hoặc wifi và được đánh giá ở mức khá tốt từ 3,80 đến 4,29 điểm. Tuy nhiên, hệ thống máy tính phục vụ giảng dạy chỉ đạt mức trung bình 2,64 đến 3,17 điểm, và số lượng thiết bị trình chiếu (máy chiếu projector, máy in, máy ảnh) chỉ đạt 2,89 đến 2,95 điểm. Mỗi trường chỉ sở hữu từ 1 đến 2 máy chiếu, dẫn đến tình trạng 2 đến 3 học sinh phải dùng chung 1 máy vi tính trong giờ thực hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của thực trạng trên bắt nguồn từ cả yếu tố chủ quan lẫn khách quan. Về phía giáo viên, một bộ phận giáo viên lớn tuổi còn mang tâm lý ngại thay đổi, thiếu kỹ năng khai thác các phần mềm mô phỏng thí nghiệm như Crocodile Physics hay sơ đồ tư duy 3D. Việc ứng dụng công nghệ phần lớn chỉ mang tính hình thức, tập trung vào các tiết thao giảng, dự giờ hoặc thi giáo viên dạy giỏi các cấp mà chưa trở thành hoạt động thường nhật. Về phía học sinh, do thiếu sự định hướng phương pháp tự học từ gia đình và nhà trường, đa phần các em sử dụng máy tính và internet cho mục đích giải trí, mạng xã hội và trò chơi trực tuyến thay vì tra cứu học liệu.

Khi so sánh với các nghiên cứu của Lê Thành Đạt (2012) tại Bến Tre hay Đỗ Trung Quân (2012) tại Lệ Thủy, Quảng Bình, kết quả này phản ánh một quy luật chung tại các trường vùng ven: nút thắt lớn nhất không nằm ở việc thiếu đường truyền mạng mà nằm ở sự thiếu thốn thiết bị đầu cuối và công tác quản lý chuyên môn chưa theo kịp thực tiễn. Khi trực quan hóa dữ liệu qua biểu đồ so sánh đa trục giữa điểm tự đánh giá của giáo viên và điểm kiểm tra của Ban Giám hiệu, khoảng cách chênh lệch rõ nét nhất xuất hiện ở năng lực tự tạo phần mềm và bài giảng điện tử tương tác. Dữ liệu bảng thống kê cho thấy sự bất cập về tỷ lệ phân bổ máy chiếu (1-2 máy/trường) chính là rào cản vật chất trực tiếp làm giảm tần suất lên lớp bằng giáo án điện tử của giáo viên.

Đề xuất và khuyến nghị

Để tháo gỡ các rào cản và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, luận văn đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý đồng bộ:

  • Nâng cao nhận thức và chuyển đổi tư duy cho 100% cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh: Tổ chức định kỳ hàng quý các buổi sinh hoạt chuyên đề, hội thảo sư phạm nhằm quán triệt các văn bản chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Mục tiêu đạt 100% giáo viên loại bỏ tâm lý ngại công nghệ, hoàn thành trong học kỳ I năm học 2016 - 2017 do Ban Giám hiệu chủ trì.
  • Đổi mới công tác bồi dưỡng và chuẩn hóa năng lực công nghệ cho giáo viên: Triển khai tập huấn thực hành chuyên sâu theo cụm trường về các phần mềm dạy học chuyên ngành, kỹ năng xây dựng bài giảng E-learning và khai thác thư viện bài giảng điện tử Violet. Mục tiêu nâng điểm trung bình kỹ năng phần mềm của giáo viên từ 3,19 điểm lên trên 4,00 điểm trong vòng 12 tháng, do Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp các Tổ chuyên môn thực hiện.
  • Tăng cường chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy gắn với tiêu chí định lượng: Ban hành quy định bắt buộc mỗi giáo viên thực hiện tối thiểu từ 20% đến 30% tổng số tiết dạy có ứng dụng công nghệ thông tin trong mỗi học kỳ. Giao nhiệm vụ cho Phó Hiệu trưởng và Tổ trưởng chuyên môn kiểm tra giáo án số và dự giờ đột xuất định kỳ hàng tháng.
  • Đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, chuẩn hóa cơ sở vật chất và hạ tầng thiết bị: Huy động nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước kết hợp công tác xã hội hóa giáo dục thông qua Ban đại diện cha mẹ học sinh. Mục tiêu nâng cấp 100% phòng máy tính đạt chuẩn 1 học sinh/1 máy và trang bị tối thiểu 5 máy chiếu hoặc màn hình tương tác thông minh cho mỗi trường trước năm 2020 do Hiệu trưởng và UBND huyện chỉ đạo.
  • Phát động phong trào tự học và định hướng khai thác dữ liệu số an toàn cho học sinh: Thành lập các câu lạc bộ tin học, tổ chức các cuộc thi giải toán và tiếng Anh qua mạng (ViOlympic, IOE), hướng dẫn kỹ năng tra cứu bách khoa toàn thư mở Wikipedia. Mục tiêu giảm tỷ lệ học sinh không ứng dụng công nghệ từ 55,00% xuống dưới 15,00% trong lộ trình 2 năm học.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo ứng dụng thực tế cho 4 nhóm đối tượng:

  • Cán bộ quản lý giáo dục (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng trường phổ thông): Nắm vững quy trình quản lý 4 giai đoạn (lập kế hoạch, tổ chức bồi dưỡng, kiểm tra chuyên môn, đánh giá thi đua) và áp dụng trực tiếp mẫu bảng biểu khảo sát năng lực giáo viên để quản trị cơ sở giáo dục hiệu quả.
  • Giáo viên trung học cơ sở các bộ môn: Khai thác phương pháp tìm kiếm tư liệu số, cách thức tích hợp phần mềm chuyên ngành vào cấu trúc bài giảng điện tử và kỹ năng tổ chức cho học sinh làm việc nhóm trên không gian mạng.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Quản lý giáo dục: Sử dụng nguồn tài liệu tham khảo phong phú, mô hình nghiên cứu định lượng mẫu 228 phiếu hỏi và hệ thống phương pháp thống kê toán học làm cơ sở đối sánh cho các đề tài phát triển giáo dục địa phương.
  • Cơ quan quản lý cấp Quận, Huyện và Sở Giáo dục và Đào tạo: Tham khảo các cứ liệu thực chứng từ 16 trường học của huyện Vĩnh Linh để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách trang thiết bị, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên chuẩn quốc gia giai đoạn 2016 - 2020.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nhận thức về công nghệ thông tin của giáo viên đạt mức cao nhưng kỹ năng ứng dụng phần mềm thực tế chỉ ở mức trung bình? Nguyên nhân là do công tác tập huấn trước đây nặng về lý thuyết tin học đại cương mà thiếu thực hành sư phạm chuyên ngành. Giáo viên nắm được kiến thức máy tính cơ bản nhưng lúng túng khi xử lý các phần mềm dạy học bộ môn, dẫn đến tâm lý ngại khó và chỉ dừng lại ở việc soạn thảo văn bản hoặc trình chiếu đơn giản.

Tình trạng cơ sở vật chất công nghệ thông tin tại các trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Linh gặp rào cản lớn nhất ở điểm nào? Rào cản lớn nhất là sự mất cân đối nghiêm trọng giữa hạ tầng kết nối mạng (đạt điểm khá 4,29) và số lượng thiết bị đầu cuối. Mỗi trường chỉ có từ 1 đến 2 máy chiếu, phòng máy tính thiếu thốn khiến 2 đến 3 học sinh phải dùng chung một máy, gây cản trở lớn cho việc triển khai dạy học đại trà.

Làm thế nào để chuyển đổi tỷ lệ 55% học sinh ít hoặc không ứng dụng công nghệ sang trạng thái học tập tích cực? Nhà trường cần đưa kỹ năng khai thác internet vào chương trình hướng dẫn ngoại khóa đầu năm học, gắn việc học tập với các dự án nghiên cứu nhỏ và các cuộc thi trực tuyến. Khi giáo viên giao nhiệm vụ tìm kiếm học liệu số cụ thể về nhà, học sinh sẽ chuyển dịch từ thói quen chơi game, lướt mạng xã hội sang tự học kiến thức.

Phương thức quản lý của Ban Giám hiệu đối với việc giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin được thực hiện qua các kênh nào? Hiệu trưởng phân cấp quản lý trực tiếp cho Phó Hiệu trưởng và các Tổ trưởng chuyên môn. Công tác kiểm tra thực hiện thông qua việc duyệt hồ sơ giáo án điện tử định kỳ, dự giờ thăm lớp theo lịch trình hoặc đột xuất, kết hợp đánh giá mức độ tiếp thu của học sinh qua các bài kiểm tra trắc nghiệm trên máy tính.

Các nghiên cứu trước đây đóng vai trò gì trong việc xây dựng giải pháp của đề tài này? Các công trình của Lê Thành Đạt (2012) và Đỗ Trung Quân (2012) cung cấp cơ sở đối sánh thực tiễn về tính tương đồng trong tâm lý giáo viên vùng nông thôn. Luận văn kế thừa các bài học kinh nghiệm về quản lý hành chính, đồng thời phát triển thêm các biện pháp đặc thù phù hợp với điều kiện địa kinh tế và cơ chế tự chủ của huyện Vĩnh Linh.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện hệ thống lý luận về quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động dạy học cấp trung học cơ sở, xác định rõ vai trò tương tác giữa người dạy và người học.
  • Khảo sát thực chứng nghiêm túc với 228 phiếu hỏi tại 16 trường trung học cơ sở huyện Vĩnh Linh đã phản ánh chính xác bức tranh thực trạng: nhận thức tổng thể đạt trên 80%, đường truyền mạng tốt nhưng kỹ năng phần mềm của giáo viên (3,19 điểm) và trang thiết bị thực hành còn hạn chế.
  • Chỉ ra nguyên nhân cốt lõi của sự chậm trễ trong chuyển đổi phương pháp là do thiếu hụt thiết bị trình chiếu (1-2 máy chiếu/trường) và thiếu cơ chế thi đua định lượng cụ thể.
  • Xây dựng thành công 5 nhóm biện pháp quản lý mang tính đột phá, kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo nhân lực, đầu tư hạ tầng và đổi mới quy chế kiểm tra đánh giá.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn vững chắc cho Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Vĩnh Linh cùng các trường trung học cơ sở trên địa bàn trong lộ trình đổi mới căn bản giáo dục đến năm 2020.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2016 đến 2020, ngành giáo dục huyện Vĩnh Linh cần khẩn trương hiện thực hóa các giải pháp nêu trên theo từng học kỳ. Sự chung tay đồng bộ giữa cơ quan quản lý, đội ngũ giáo viên, hội cha mẹ học sinh và chính quyền địa phương là điều kiện tiên quyết để biến công nghệ thông tin thành đòn bẩy nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho quê hương. Các nhà trường hãy chủ động xây dựng kế hoạch hành động chi tiết ngay từ hôm nay để mở ra môi trường giáo dục thông minh, sáng tạo và hội nhập.