mở đầu bằng những câu “ ngày xửa ngày xưa”… [ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132] 19 * Về không gian Theo Propp, không gian trong truyện cổ tích giữ vai trò hai mặt. Một mặt, nó là một thành phần cấu trúc quan trọng, mặt khác, dường như nó ít được quan tâm. Sự thay đổi về mặt không gian là cơ sở cho việc phát triển các tình tiết của cốt truyện.
Bên cạnh đó, truyện cổ tích chối bỏ việc gia công tỉ mỉ khi xây dựng thủ pháp không gian truyện cổ tích. Cũng như thời gian, trong cổ tích, không gian mang tính phiếm định, ước lệ. Không gian thường là ở một làng nọ, vùng nọ, vương quốc nọ,…ít khi nói đến một địa danh cụ thể. Nhân vật cổ tích đến các không gian như thế nào không quan trọng mà cái quan trọng là cách thức họ vượt qua nó.
Có thể họ xuất hiện tại một không gian mới bằng viên ngọc ước, bó củi thần,… Không gian chủ yếu chỉ được xây dựng như những điểm dừng, những khoảng cách xa như các giai đoạn của nghi lễ. Không gian trong cổ tích, do không mang tính cụ thể, xác định nên không chịu sự gán ghép, đặt để, kết dính với bất cứ một địa phương nào. Tuy nhiên, nó lại là thể loại mang tầm quốc tế. Nói theo Chu Xuân Diên, “Tính chất quốc tế rõ ràng là một hiện tượng độc đáo nổi bật của truyện cổ tích.
Truyện cổ tích có khả năng di chuyển từ dân tộc này sang dân tộc khác, vượt qua mọi ranh giới về ngôn ngữ, về lãnh thổ. của các quốc gia”.[Chu Xuân Diên, 2001, tr. 224] * Về nhân vật Theo Lê Chí Quế, nhân vật chính trong cổ tích, là con người của đời thường, trong một xã hội phân chia giai cấp. Đó là những nhân vật bất hạnh như đứa con mồ côi, đứa con riêng, người con út, người đi ở, nhân vật xấu xí., nhân vật dũng sĩ và người có tài năng kì lạ, nhân vật thông minh hay ngốc nghếch, nhân vật là động vật biết nói năng, hành động như con người.
Mỗi nhân vật trong truyện cổ tích luôn thuộc về một kiểu nhân vật nào đó (người mồ côi, người em út, người xấu xí mà tài ba. [ Lê Chí Quế, 2001, tr. 132] Cũng đồng ý kiến với Lê Chí Quế, Đinh Gia Khánh cho rằng nhân vật chính của cổ tích là người, “ lấy nguyên mẫu trong xã hội loài người. Nếu có một số nhân vật một số là thần linh hoặc được xây dựng trên cơ sở nhân cách hóa các hiện tượng thiên nhiên thì đó cũng chỉ là nhân vật phụ” [ Đinh Gia Khánh, 1998, tr.
Ngoài ra, theo Nguyễn Xuân Đức, các nhân vật trong truyện cổ tích là những nhân vật cực tuyến và phân cực rõ rệt về mặt nhân cách. Tuy nhiên, các nhân vật này vẫn chưa thể vừa mang tính khái quát vừa mang tính cá thể rõ nét. [ Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr. 20 *Về kết cấu văn bản Kết cấu một văn bản cổ tích nhìn chung ổn định và theo công thức.
Theo Propp, kết cấu của truyện cổ tích là hành trình các nhân vật thực hiện các chức năng đã được định sẵn như nhân vật chính từ giã nhà mình, nhân vật bị thử thách, bị gạn hỏi, bị tra khảo và điều đó chuẩn bị cho anh ta có được phương tiện thần kì hay người giúp đỡ,…[Propp, 2003, tr. Theo Đinh Gia Khánh, trong cổ tích, “để thỏa mãn được yêu cầu truyền khẩu, Truyện cổ tích thường cấu tạo theo đường thẳng. Cốt truyện xây dựng theo trình tự thông thường, việc gì xảy ra trước, kể trước, việc gì xảy ra sau, kể sau…Cốt truyện phát triển theo một mạch tình tiết chính”.[Đinh Gia Khánh, 1998, tr. Trong cổ tích, kết thúc tác phẩm thường bao giờ cũng có “hậu”.
Nhân vật bao giờ cũng được đền bù xứng đáng cho những bất hạnh, những thử thách nghiệt ngã mà mình phải gánh chịu, phải vượt qua ( ngoại trừ một số truyện cổ tích sinh hoạt) * Thái độ tiếp nhận truyện cổ tích Nếu như trong thần thoại, cả người kể lẫn người nghe đều tin tưởng tuyệt đối vào điều được kể thì trong cổ tích, người kể hết sức tỉnh táo để bịa ra chuyện. Còn bản thân người nghe lại ở trong trạng thái si mê tạo nên “trường cổ tích”. Người kể cổ tích rất có ý thức trong việc sử dụng các yếu tố hư cấu nghệ thuật nhất là yếu tố kì diệu để tạo ra một thế giới kì diệu, hoang đường, lãng mạn nhằm tạo hứng thú cho người nghe.Propp đã nhận định “ Các sự kiện được kể ra dị thường đến mức không bao giờ có thể xảy ra trong thực tiễn và chính nhờ điều đó mà cổ tích tạo ra sự hứng thú”.[Nguyễn Xuân Đức, 2011, tr. 42] Đó chính là hành động sáng tạo lại những câu chuyện “ đời xưa” nhưng lại tạo nên sức hấp dẫn kì lại nơi người nghe tạo nên một trạng thái “ trường cổ tích”.
Thật vậy, “trường cổ tích” là một thủ pháp nghệ thuật đặc trưng của thể loại cổ tích. Theo cách lí giải của Nguyễn Xuân Đức, chúng tôi hiểu “ trường cổ tích” là một cái khung bao gồm hai hệ tọa độ là không- thời gian truyện cổ tích và người nghe với những cảm xúc thẩm mĩ bị tác động khi tiếp nhận truyện cổ tích là những điểm nằm trong hệ tọa độ đó. “Trường cổ tích” có mối liên hệ chặt chẽ với thế giới cổ tích. Thế giới cổ tích thuộc về phương diện nội dung của truyện cổ tích, là một không gian đặc thù bao chứa sự tưởng tượng về sự tồn tại của những điều li kì khác với thế giới hiện thực.
Trong khi đó, “trường cổ tích” lại thuộc về phương thức nghệ thuật tạo ra sự hấp dẫn nơi người nghe. Nhưng để tạo nên được sự hấp dẫn người nghe thì thế giới cổ tích với những hư cấu kì diệu đóng vai 21 trò rất to lớn. Như vậy, thế giới cổ tích nằm trong tập hợp các yếu tố góp phần tạo nên “trường cổ tích”. “Trường cổ tích” được tạo ra chủ yếu nhờ vào cách tạo ra một không- thời gian cổ tích mà chúng tôi đã bàn ở phần trên.
Chúng đã đưa người nghe vào một trạng thái tinh thần đặc thù. Người nghe lúc này hoàn toàn tách biệt với thế giới bên ngoài, đắm chìm vào một thế giới cổ tích đầy cái Đẹp và cái Thiện. Người nghe đã “ ly thân” ( Chữ dùng của Nguyễn Xuân Đức) khỏi con người lí tính bình thường. Để kết thúc truyện, truyện cổ tích thường kết thúc bằng những hiện tượng thường gặp trong cuộc sống để tạo mối liên kết, một “chiếc cầu” đưa người đọc (nghe) trở về hiện thực.
Đó chính là các giai đoạn để tạo ra “trường cổ tích”: nhập trường, tạo trường và giải trường. Khái quát truyền thuyết và truyện cổ tích của dân tộc Kinh Người Kinh hay còn gọi là người Việt là dân tộc chiếm ưu thế nhất về mặt số lượng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Họ đã tạo nên một nền văn minh rực rỡ ven sông Hồng với sự phát triển vượt bậc, đặc biệt là hệ thống truyền thuyết và truyện cổ tích. Cũng như các thể loại văn học dân gian khác, hệ thống truyền thuyết và truyện cổ tích dân tộc Kinh là lăng kính phản ánh những vấn đề cốt yếu nhất của xã hội lúc bấy giờ.
Xã hội càng phát triển thì mối quan hệ giữa người và người cũng phức tạp, mâu thuẫn cũng bộc lộ rõ hơn. Mâu thuẫn nổi bật nhất là mâu thuẫn giữa địa chủ và nông dân. Các truyền thuyết về những cuộc khởi nghĩa của nông dân cũng phát triển mạnh mẽ như “Chàng Lía”, “Cố Bu”, “Ba Vành”, “Hầu Tạo”,… Qua đó, truyền thuyết và truyện cổ tích thể hiện sự phản kháng, lên án, tố cáo bộ mặt của xã hội lúc bấy giờ. Cũng phản ánh mâu thuẫn xã hội nhưng trong truyện cổ Chăm lại là mâu thuẫn về đẳng cấp bởi thiết chế xã hội Chăm chịu ảnh hưởng từ Đạo Bà La Môn.
Cùng là nền nông nghiệp lúa nước nhưng dân tộc Kinh có những bước phát triển khác hẳn so với tộc Khmer và Chăm. Ở tộc Kinh, dấu vết của chế độ mẫu hệ đã mờ nhạt, chế độ phụ hệ phát triển mạnh mẽ. Type truyện Tấm Cám thể hiện rất rõ điều này. Trong “Tấm Cám” của người Việt, mâu thuẫn dì ghẻ- con chồng là mâu thuẫn chủ yếu.
Đây chính là hệ quả của chế độ phụ hệ. Trong khi đó, ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ còn rất sâu đậm trong truyện cổ Khmer và Chăm. Tấm Cám của dân tộc Chăm lại phản ánh mối quan hệ con ruột- con nuôi do sự ảnh hưởng của chế độ mẫu hệ. Hay trong các câu chuyện truyền thuyết của Khmer, nhân vật phụ nữ là nhân vật chính chiếm số lượng phổ biến như “Sự tích ao Bà Om”, “Sự tích núi Bà Đen”, “Sự tích núi Bà đội om”,… 22 Theo Nguyễn Khánh Toàn trong Văn học dân gian Việt Nam- một biểu hiện độc đáo và xuất sắc sức sống mãnh liệt của dân tộc, trong những thời kì đấu tranh gay gắt giữa nông dân và phong kiến, tầng lớp trí thức phong kiến có sự phân hóa ngày càng sâu sắc, những nho sĩ sống ở nông thôn đã hòa mình vào nhân dân, dùng văn học dân gian làm vũ khí đấu tranh chống chế độ áp bức bóc lột của giai cấp phong kiến và đã góp phần đáng kể làm cho vốn văn học dân gian thêm giàu và tinh vi.[Nguyễn Khánh Toàn, 2003,106] Thật vậy, về lực lượng sáng tác, truyền thuyết và truyện cổ tích vốn được sáng tác và lưu truyền ở cửa miệng nhân dân.
Tuy nhiên, trong thời kì phong kiến, ở xã hội người Kinh, hầu như ở làng quê nào cũng có các thầy đồ. Họ mở lớp dạy chữ nghĩa cho trẻ con, thanh niên. Nhiều vị quan tài cao học rộng, hiểu biết uyên bác khi về ở ẩn, vui thú điền viên cũng mở lớp dạy học. Vì vậy, truyền thuyết và truyện cổ tích chịu ảnh hưởng của tầng lớp nho sĩ rất lớn.
Không chỉ vậy, nhiều nơi, chùa chính là nơi sinh hoạt văn hóa, văn nghệ của dân chúng. Các nhà sư cũng là những vị trí thức uyên bác mở lớp dạy học cho dân chúng. Do đó, cả nho sĩ và các nhà sư cùng đóng vai trò rất lớn trong đời sống tinh thần của dân chúng. Các câu chuyện truyền thuyết và truyện cổ tích, món ăn tinh thần của dân chúng đương nhiên cũng chịu ảnh hưởng về tư tưởng của nho sĩ và nhà sư.
Chúng được các nhà nho, nhà sư ghi chép thành văn bản lưu hành ở các đình, đền, miếu, chùa,…và được các vương triều biên soạn thành thần tích, ngọc phả.