Nghiên cứu điều kiện tái chế nhựa từ thiết bị điện tử thải bỏ phù hợp với Việt Nam

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật nghiên cứu hus nghiên cứu điều kiện tái chế plastic từ thiết bị điện tử thải bỏ phù hợp với điều kiện việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên

Chuyên ngành

Hóa môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2012

81
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. PHẦN I: TỔNG QUAN

1.1. Thực trạng quản lý và xử lý nhựa thải từ thiết bị điện tử

1.2. Tình hình quản lý chất thải điện tử trên thế giới

1.3. Đặc tính của nhựa trong thiết bị điện tử

1.4. Thực trạng phát sinh và quản lý nhựa thải từ thiết bị điện tử ở Việt Nam

1.5. Tình hình xử lý nhựa thải từ thiết bị điện tử ở Việt Nam

1.6. Công nghệ xử lý và tái chế nhựa. Tính chất hoá - lý của một số loại nhựa

1.6.1. Nhựa Acrylonitril butadien Styren (ABS)

1.6.2. Nhựa Polyvinyl clorua (PVC)

1.7. Giới thiệu một số phương pháp xử lý và tái chế nhựa

2. PHẦN II: THỰC NGHIỆM

2.1. Hoá chất, dụng cụ, thiết bị

2.1.1. Hoá chất và nguyên liệu

2.1.2. Dụng cụ và máy móc

2.2. Xử lý nhựa ABS tái chế và nhựa bản mạch

2.2.1. Xử lý nhựa ABS tái chế

2.2.2. Xử lý nhựa bản mạch

2.3. Chế tạo vật liệu compozit. Các phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp lưu biến trạng thái nóng chảy

2.3.2. Phương pháp xác định tính chất cơ học

2.3.2.1. Phương pháp đo độ bền uốn của vật liệu
2.3.2.2. Phương pháp đo độ bền va đập

2.3.3. Phổ hồng ngoại phân tích chuỗi Fourier (FTIR)

2.3.4. Phương pháp kính hiển vi trường điện tử phát xạ (FESEM)

2.3.5. Các phương pháp phân tích nhiệt

3. PHẦN III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát tái chế nhựa ở thôn Minh Khai - Như Quỳnh - Hưng Yên (Làng Khoai)

3.1.1. Giới thiệu về làng Khoai

3.1.2. Thực trạng thu gom và tái chế nhựa ở Minh Khai - Như Quỳnh - Hưng Yên

3.2. Khảo sát khả năng tái chế nhựa ABS

3.2.1. Phân tích đánh giá thành phần nhựa ABS nguyên chất và nhựa ABS tái chế bằng phương pháp FTIR

3.2.2. Khảo sát ảnh hưởng tỉ lệ pha trộn giữa nhựa ABS nguyên chất và nhựa ABS tái chế

3.2.3. Tính chất lưu biến trạng thái nóng chảy của tỉ lệ pha trộn nhựa ABS nguyên chất và nhựa ABS tái chế

3.2.4. Ảnh hưởng tỉ lệ pha trộn giữa nhựa ABS nguyên chất và nhựa ABS tái chế đến tính chất cơ lý của compozit

3.2.5. Phân tích nhiệt tổ hợp nhựa ABS với hàm lượng nhựa ABS tái chế 20%

3.3. Khảo sát ảnh hưởng của kích thước bột nhựa bản mạch

3.3.1. Tính chất lưu biến trạng thái nóng chảy của tổ hợp nhựa khi trộn bột nhựa bản mạch với các kích thước hạt khác nhau

3.3.2. Ảnh hưởng của kích thước bột nhựa bản mạch đến tính chất cơ lý của compozit

3.3.3. Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng bột nhựa bản mạch nền tổ hợp nhựa ABS

3.3.4. Tính chất lưu biến trạng thái nóng chảy của tổ hợp nhựa khi trộn bột nhựa bản mạch với các hàm lượng khác nhau

3.3.5. Tính chất cơ lý của compozit

3.3.6. Khảo sát ảnh hưởng của hàm lượng axit stearic/ tổ hợp nhựa ABS /bột nhựa bản mạch

3.3.7. Tính chất lưu biến trạng thái nóng chảy của tổ hợp nhựa khi trộn nhựa bản mạch được biến tính bằng axit stearic

3.3.8. Tính chất cơ lý của compozit

3.4. Khảo sát tính chất nhiệt của vật liệu

3.4.1. Khảo sát sự tương hợp pha của vật liệu compozit bằng kính hiển vi điện tử

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu tái chế nhựa từ thiết bị điện tử thải bỏ tại Việt Nam

Nghiên cứu tái chế nhựa từ thiết bị điện tử thải bỏ tại Việt Nam đang trở thành một vấn đề cấp bách. Với sự gia tăng nhanh chóng của rác thải điện tử, việc tìm kiếm các phương pháp tái chế hiệu quả là rất cần thiết. Nhựa từ thiết bị điện tử chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng lượng rác thải, và việc xử lý chúng không chỉ giúp bảo vệ môi trường mà còn tạo ra giá trị kinh tế. Theo thống kê, nhựa thải từ thiết bị điện tử chiếm khoảng 30% tổng khối lượng rác thải điện tử. Điều này đặt ra thách thức lớn cho việc quản lý và tái chế nhựa tại Việt Nam.

1.1. Tình hình quản lý chất thải điện tử tại Việt Nam

Tình hình quản lý chất thải điện tử tại Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập. Việc thu gom, phân loại và xử lý rác thải điện tử chủ yếu diễn ra một cách tự phát. Các làng nghề tái chế như Minh Khai - Hưng Yên đang phải đối mặt với ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Thiếu cơ sở pháp lý và công nghệ hiện đại là những rào cản lớn trong việc quản lý chất thải điện tử.

1.2. Đặc tính của nhựa trong thiết bị điện tử

Nhựa trong thiết bị điện tử có nhiều loại khác nhau, trong đó nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn là phổ biến nhất. Nhựa nhiệt dẻo có khả năng tái chế tốt hơn, trong khi nhựa nhiệt rắn thường khó xử lý hơn. Các loại nhựa như ABS, PVC, và HIPS thường được sử dụng trong sản xuất thiết bị điện tử, và chúng có khả năng tái chế cao nếu được xử lý đúng cách.

II. Vấn đề và thách thức trong tái chế nhựa từ thiết bị điện tử

Việc tái chế nhựa từ thiết bị điện tử gặp nhiều thách thức. Đầu tiên, công nghệ tái chế hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu xử lý các loại nhựa phức tạp. Thứ hai, nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của việc tái chế còn hạn chế. Cuối cùng, việc thiếu nguồn lực và đầu tư cho công nghệ tái chế cũng là một vấn đề lớn. Những thách thức này cần được giải quyết để nâng cao hiệu quả tái chế nhựa tại Việt Nam.

2.1. Công nghệ tái chế nhựa hiện tại

Công nghệ tái chế nhựa hiện tại tại Việt Nam chủ yếu dựa vào các phương pháp thủ công, dẫn đến hiệu suất tái chế thấp. Các công nghệ hiện đại như tái chế hóa học và tái chế cơ học vẫn chưa được áp dụng rộng rãi. Việc đầu tư vào công nghệ mới là cần thiết để nâng cao hiệu quả tái chế.

2.2. Nhận thức cộng đồng về tái chế nhựa

Nhận thức của cộng đồng về tái chế nhựa từ thiết bị điện tử còn hạn chế. Nhiều người dân chưa hiểu rõ về tác hại của rác thải điện tử và lợi ích của việc tái chế. Cần có các chương trình giáo dục và tuyên truyền để nâng cao nhận thức và khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động tái chế.

III. Phương pháp tái chế nhựa từ thiết bị điện tử hiệu quả

Để tái chế nhựa từ thiết bị điện tử hiệu quả, cần áp dụng các phương pháp hiện đại và phù hợp với điều kiện Việt Nam. Các phương pháp như tái chế cơ học, tái chế hóa học và sử dụng công nghệ sinh học đang được nghiên cứu và phát triển. Những phương pháp này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra sản phẩm có giá trị từ nhựa tái chế.

3.1. Tái chế cơ học nhựa từ thiết bị điện tử

Tái chế cơ học là phương pháp phổ biến nhất hiện nay. Quá trình này bao gồm việc nghiền nát nhựa, phân loại và tái tạo thành sản phẩm mới. Tuy nhiên, phương pháp này cần được cải tiến để nâng cao hiệu suất và giảm thiểu ô nhiễm trong quá trình tái chế.

3.2. Tái chế hóa học nhựa từ thiết bị điện tử

Tái chế hóa học là một phương pháp tiên tiến hơn, cho phép chuyển đổi nhựa thành nguyên liệu thô. Phương pháp này có thể giúp thu hồi các thành phần hóa học có giá trị từ nhựa, nhưng đòi hỏi công nghệ cao và chi phí đầu tư lớn.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tái chế nhựa

Nghiên cứu về tái chế nhựa từ thiết bị điện tử đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các sản phẩm tái chế từ nhựa có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ xây dựng đến sản xuất đồ dùng hàng ngày. Việc áp dụng các công nghệ tái chế hiện đại không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra giá trị kinh tế cho cộng đồng.

4.1. Sản phẩm tái chế từ nhựa thiết bị điện tử

Các sản phẩm tái chế từ nhựa thiết bị điện tử có thể bao gồm vật liệu xây dựng, đồ dùng gia đình và các sản phẩm tiêu dùng khác. Những sản phẩm này không chỉ giúp giảm thiểu rác thải mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho người dân.

4.2. Kết quả nghiên cứu tại làng Khoai Hưng Yên

Nghiên cứu tại làng Khoai cho thấy khả năng tái chế nhựa ABS và HIPS từ thiết bị điện tử là rất khả thi. Các sản phẩm tái chế đạt tiêu chuẩn chất lượng và có thể được sử dụng trong sản xuất. Điều này mở ra cơ hội mới cho việc phát triển ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam.

V. Kết luận và tương lai của tái chế nhựa tại Việt Nam

Tái chế nhựa từ thiết bị điện tử là một lĩnh vực đầy tiềm năng tại Việt Nam. Tuy nhiên, để phát triển bền vững, cần có sự đầu tư vào công nghệ, nâng cao nhận thức cộng đồng và xây dựng chính sách hỗ trợ. Tương lai của tái chế nhựa tại Việt Nam phụ thuộc vào sự hợp tác giữa các bên liên quan, từ chính phủ đến doanh nghiệp và cộng đồng.

5.1. Định hướng phát triển ngành tái chế nhựa

Ngành tái chế nhựa cần được định hướng phát triển theo hướng bền vững, kết hợp giữa công nghệ hiện đại và bảo vệ môi trường. Cần có các chính sách khuyến khích đầu tư vào công nghệ tái chế và hỗ trợ các doanh nghiệp trong lĩnh vực này.

5.2. Tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức

Nâng cao nhận thức cộng đồng về tái chế nhựa là rất quan trọng. Các chương trình giáo dục và tuyên truyền cần được triển khai rộng rãi để khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động tái chế, từ đó góp phần bảo vệ môi trường.

18/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ngành điện tử ngày một phát triển, rác thải từ ngành này phát sinh ngày một nhiều làm tăng nguy cơ ô nhiễm và độc hại tới môi trường. Tuy nhiên việc xử lý rác thải điện tử đòi hỏi công nghệ phức tạp và chi phí khá tốn kém. Ngay ở các quốc gia phát triển, chỉ một phần nhỏ rác thải điện tử được xử lý, còn lại sẽ được thu gom và xuất sang các nước khác. Ở Việt Nam, vấn đề rác thải điện tử hầu như chưa được quan tâm trong khi nguy cơ từ loại rác thải này sẽ tăng nhanh trong thời gian tới.

Hiện nay, việc thu gom, phân loại, xử lý hay tái chế rác thải điện tử ở nước ta chủ yếu là diễn ra một cách tự phát, vì lợi ích kinh tế là chính. Các làng nghề tái chế rác thải điện tử ở nước ta đã có dấu hiệu về sự ô nhiễm đối với nguồn đất, nước như khu vực Minh Khai - Văn Lâm - Hưng Yên hay khu Triều Khúc - Thanh Trì - Hà Nội. Trong khi đó, chúng ta lại chưa có đầy đủ cơ sở pháp lý, vốn và các điều kiện cần thiết cho xử lý và tái chế rác thải điện tử. Trước tình trạng đó, nếu chúng ta không chủ động tìm ra các biện pháp xử lý, tái chế rác thải điện tử phù hợp cho các làng nghề thì trong tương lai không xa, rác thải điện tử sẽ thực sự trở thành một mối lo ngại lớn đối với nước ta.

Rác thải điện tử gồm 3 thành phần chính: kim loại, nhựa và thủy tinh. Trong đó lượng nhựa thải ra tương đối nhiều chiếm khoảng 30% chỉ sau kim loại (40%). Công nghệ xử lý bằng cách đốt, chôn lấp sẽ làm ô nhiễm, thoái hóa đất, phát sinh các khí độc gây ảnh hưởng lớn đến con người và môi trường xung Luận văn thạc sĩ 1 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học (dioxin). Vì vậy cần có phương pháp xử lý tái chế hiệu quả và phù hợp với điều kiện thực tế Việt Nam.

Cũng chính vì những lý do trên mà trong luận văn này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu điều kiện tái chế plastic từ thiết bị điện tử thải bỏ phù hợp với điều kiện Việt Nam. Mục đích của luận văn này là giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời có thể ứng dụng để sản xuất các sản phẩm khác nhau tùy mục đích sử dụng. Ngoài ra cũng có thể đem áp dụng cho các làng nghề tái chế nhựa ở Việt Nam, vừa đạt hiệu quả kinh tế cao lại vừa đảm bảo không gây ô nhiễm. Luận văn thạc sĩ 2 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học PHẦN I: TỔNG QUAN 1.

Thực trạng quản lý và xử lý nhựa thải từ thiết bị điện tử 1. Tình hình quản lý chất thải điện tử trên thế giới Khoa học kỹ thuật phát triển đã kéo theo sự ra đời hàng loạt các thiết bị điện tử. Tuy nhiên, do các thiết bị điện tử lạc hậu quá nhanh và nhu cầu sử dụng chúng ngày càng nhiều mà chi phí tái chế loại rác này lại quá cao. Do đó hàng năm, có một khối lượng rác khổng lồ từ 20-50 triệu tấn rác điện tử được thải ra trên toàn thế giới, đe dọa nghiêm trọng đến vấn đề môi trường của con người.

Các nước phát triển là những nước thải rác điện tử nhiều nhất. Riêng tại Mỹ hàng năm có đến 14-20 triệu máy tính cá nhân bị phế bỏ. Theo tổ chức bảo vệ môi trường Mỹ, trong năm 2005, người tiêu dùng Mỹ đã thải ra gần 2 triệu tấn rác điện tử. Tại nước Anh mỗi năm có khoảng 1,5 triệu chiếc máy tính bị thải ra bãi rác tương đương 125.000 tấn thiết bị tin học.

Canada năm 2005 thải ra 67.000 tấn máy tính, máy in, điện thoại di động là những thứ rác điện tử chứa nhiều hóa chất độc. Tại Liên minh châu Âu (EU), khối lượng rác điện tử dự kiến sẽ tăng 3 – 5% mỗi năm. Tại các nước đang phát triển lượng rác điện tử tăng gấp 3 lần vào năm 2011 [14, 16]. Còn số điện thoại di động thì sẽ vượt ngưỡng 2 tỷ chiếc vào năm 2012 trên thế giới, trong khi tuổi đời sử dụng của chúng chỉ khoảng 2 năm, như thế có thể thấy lượng rác thải sắp tới sẽ rất đáng kể.

Các quốc gia có ngành công nghiệp điện tử phát triển nhất thế giới như EU, Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Australia là các quốc gia thải nhiều rác điện tử nhất. Tại các nước châu Âu hàng năm thải ra một lượng nhựa phế thải khổng lồ. Đức thải ra khoảng 127.000 tấn /năm, nhựa phế thải được tạo ra từ lĩnh vực điện Luận văn thạc sĩ 3 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học và điện tử, tiếp theo là Pháp và Anh, thải ra khoảng 98.000 tấn/năm, tương ứng. Thụy Điển thải ra khoảng 13.

Belg/Luxemb 25 x 1000 tấn Denmark 12 France 98 Germany 127 Greece 4 Ireland 2 Italy 75 1 Netherlands 29 Portugal 6 Spain 52 UK 93 Austria 15 Finland 9 Norway 3 0 50 100 150 Sweden 13 Switzerland 14 Hình 1. Lượng nhựa thải ra từ các thiết bị điện, điện tử ở các nước châu Âu Nhưng thay vì tái chế tại chỗ, các nước này lại chọn cách nhanh gọn hơn: xuất khẩu ra nước ngoài. Phần lớn loại rác thải điện tử được xuất khẩu sang những quốc gia đang phát triển dưới dạng đồ cũ để bán lại hoặc tái chế. Theo Greenpeace, từ 50% – 80% rác thải điện tử ở Mỹ được xuất khẩu sang Trung Quốc, Ấn Độ và các quốc gia đang phát triển khác, trong đó có Việt Nam.

Vì lợi ích kinh tế, không ít quốc gia đang phát triển đã tiếp nhận và xử lý loại rác thải này. Nhưng đi kèm với nó là hàng nghìn tấn phế liệu ẩn chứa rất nhiều độc hại. Theo số liệu thống kê, hiện châu Á đã trở thành núi rác khổng lồ của thế giới phát triển [1, 14, 16]. Luận văn thạc sĩ 4 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học Chương trình môi trường Liên hợp quốc UNEP nhận định vấn đề then chốt hiện nay là phải tạo ra một khuôn khổ toàn cầu về xử lý rác thải độc hại, kể cả việc quản lý, theo dõi hoạt động vận chuyển rác thải để biết được nguồn gốc và điểm đến của nguồn rác độc hại.

Các tổ chức, các nhà khoa học đang nghiên cứu và tìm ra kinh nghiệm xử lí các loại rác thải như máy tính, điện thoại, acquy, xe hơi, tàu thủy, các linh kiện điện tử khác…[1]. Những giải pháp giúp giải quyết tận gốc vấn đề rác thải điện tử là gắn trách nhiệm với nhà sản xuất việc làm này sẽ mang lại hai lợi ích. Thứ nhất, các nhà sản xuất sẽ đưa chi phí quản lý rác thải vào giá thành sản phẩm, sẽ thúc đẩy họ thay đổi thiết kế sản phẩm theo hướng thân thiện với môi trường hơn và kéo dài vòng đời của sản phẩm. Thứ hai, các nhà sản xuất sẽ buộc phải thiết kế các sản phẩm “sạch” hơn bằng cách loại bớt các chất nguy hiểm, thay thế các chất gây hại bằng cách sử dụng các vật liệu thay thế an toàn hơn.

Đặc tính của nhựa trong thiết bị điện tử Nhựa trong các thiết bị điện và điện tử chiếm một tỷ lệ cao, ví dụ trong nhiều loại điện thoại, ti vi và máy tính cá nhân. Tuy nhiên, cũng có nhiều thành phần nhựa, nhựa có thể nằm bên trong thiết bị, là cơ sở để kết nối các linh kiện. Tính chất cách điện của nhựa và độ bền kéo, độ bền va đập, độ bền uốn cao làm cho nhựa trở thành vật liệu quan trọng sử dụng trong lĩnh vực điện tử. Ở Tây Âu, lượng nhựa dùng cho ngành công nghiệp điện và điện tử là 2,78 triệu tấn trong năm 2002 (Hiệp hội các nhà sản xuất nhựa ở châu Âu, năm 2003).

Số lượng nhựa phế thải của ngành công nghiệp điện và điện tử ước tính tăng lên khoảng 1,13 triệu tấn vào năm 2005 ở Tây Âu (Hiệp hội Các nhà sản xuất nhựa ở châu Âu, năm 2000). Hai loại nhựa chính được sử dụng trong ngành điện tử là nhựa nhiệt rắn và nhựa nhiệt dẻo [11]. Luận văn thạc sĩ 5 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học Nhựa trong các thiết bị điện tử được phân thành hai loại là: nhựa nhiệt dẻo và nhựa nhiệt rắn [2]. - Nhựa nhiệt dẻo: có phạm vi ứng dụng rộng lớn hơn, chúng có thể nấu chảy lại được và tạo ra được sản phẩm mới.

Tính chất đó đã làm cho nhựa nhiệt dẻo có nhiều khả năng tái chế hơn nhựa nhiệt rắn. - Nhựa nhiệt rắn: thường được cắt vụn ra thành những miếng nhỏ khi tái chế, bởi vì các nhựa loại này không thể bị đun nóng chảy lại được. Nhựa nhiệt rắn được sử dụng làm các bảng mạch điện, các bộ phận vận hành điện,. Trong chất thải điện tử các thành phần nhựa chiếm tỷ lệ lớn thứ hai về khối lượng (sau kim loại) và có khả năng tái chế thu hồi nguyên liệu cao.

Tuy nhiên, nhựa từ chất thải điện tử là loại nhựa kỹ thuật có nhiều đặc điểm và tính chất khác biệt như khả năng chịu va đập, mài mòn, chống cháy, độ dẫn điện thấp… Để xử lý tái chế cần phải có kỹ thuật xử lý đặc biệt. Những loại nhựa được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp điện tử được đưa ra trong hình 1. HIPS 56% ABS 20% PPE 13% Nhựa khác 11% Hình 1. Các loại nhựa được sử dụng trong các sản phẩm điện tử Luận văn thạc sĩ 6 Nguyễn Thị Thu Ninh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trường ĐH Khoa học Tự nhiên Khoa Hóa học Qua biểu đồ trên ta thấy những loại nhựa được sử dụng chủ yếu trong công nghiệp điện tử là: HIPS (56%), ABS (20%), PPE (11%).

Do đó tiềm năng tái chế các nhựa này là rất lớn. Các loại nhựa này có trong vỏ tivi và màn hình máy tính…[11, 19]. Các vỏ tivi và màn hình máy tính thường được chế tạo từ nhựa tổng hợp (cũng có thể một phần bằng kim loại, gỗ như trong các loại máy thế hệ cũ). Cho đến nay chưa có dữ liệu thống nhất về thành phần hoá học của vỏ nhựa tổng hợp.

Tuy nhiên, có thể dự đoán các loại nhựa chủ yếu là ABS, ABS/PC, PVC, Noryl và HIPS.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ