Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu và chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hus chế tạo và nghiên cứu vật liệu multiferroic lafeo3 pzt, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn thiện trong lĩnh vực .

Chuyên ngành

Vật lý chất rắn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ khoa học

2011

54
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. VẬT LIỆU MULTIFERROIC - VẬT LIỆU PEROVSKITE SẮT ĐIỆN, SẮT TỪ

1.1. Vài nét về vật liệu Multiferroic

1.2. Vật liệu perovskite ABO3 thuần

1.3. Vật liệu ABO3 biến tính, vật liệu perovskite sắt từ

1.4. Vật liệu Perovskite sắt điện. Các tính chất của sắt điện

1.5. Vật liệu sắt điện PZT

1.6. Vật liệu orthoferrite (Perovskite LaFeO3)

2. CÁC PHƢƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

2.1. Chế tạo mẫu

2.2. Khảo sát cấu trúc tinh thể, cấu trúc tế vi và tính chất điện, từ

2.2.1. Phân tích cấu trúc tinh thể

2.2.2. Khảo sát cấu trúc tế vi

2.2.3. Khảo sát tính chất từ

2.2.4. Khảo sát tính chất điện

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Chế tạo mẫu

3.1.1. Chế tạo mẫu bột nanô LaFeO3 bằng phương pháp sol-gel

3.1.2. Chế tạo mẫu (PZT)

3.1.3. Chế tạo mẫu composite (PZT)1-x(LaFeO3)x

3.2. Kết quả và thảo luận

3.2.1. Nghiên cứu cấu trúc tinh thể và cấu trúc tế vi

3.2.1.1. Cấu trúc tinh thể của nano LaFeO3
3.2.1.2. Cấu trúc tinh thể của mẫu (PZT)0
3.2.1.3. Cấu trúc tế vi của LaFeO3 và các mẫu (PZT)0
3.2.1.4. Cấu trúc tế vi của mẫu LaFeO3 chế tạo bằng phương pháp sol-gel
3.2.1.5. Cấu trúc tế vi của mẫu (PZT)0.03 chế tạo bằng phương pháp gốm

3.2.2. Tính chất sắt từ

3.2.2.1. Đường cong M(T) và M(H) của mẫu nano-LaFeO3 chế tạo bằng phương pháp sol-gel
3.2.2.2. Tính chất sắt từ của các mẫu composite chế tạo (PZT)1-x(LaFeO3)x

3.2.3. Tính chất sắt điện

3.2.3.1. Đường cong điện trễ của các mẫu PZT và (PZT)1-x(LaFeO3)x
3.2.3.2. Sự phụ thuộc nhiệt độ của hằng số điện môi ε' và ε''
3.2.3.3. Sự phụ thuộc tần số của ε' và ε''
3.2.3.4. Tính liên kết sắt điện - sắt từ trong composite Multiferroic

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu vật liệu multiferroic LaFeO3 PZT

Vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT đang thu hút sự chú ý trong nghiên cứu vật liệu hiện đại. Chúng có khả năng kết hợp các tính chất điện và từ, mở ra nhiều ứng dụng tiềm năng trong công nghệ điện tử và viễn thông. Vật liệu này không chỉ có tính chất sắt điện mà còn có tính chất sắt từ, cho phép điều khiển các trạng thái điện từ bằng điện trường. Sự phát triển của vật liệu này có thể dẫn đến những cải tiến đáng kể trong các thiết bị lưu trữ và cảm biến.

1.1. Vật liệu LaFeO3 và PZT Đặc điểm và ứng dụng

LaFeO3 là một loại vật liệu perovskite có tính chất sắt điện và sắt từ. PZT (Pb(ZrTi)O3) là một trong những vật liệu sắt điện phổ biến nhất. Sự kết hợp giữa LaFeO3 và PZT tạo ra một vật liệu multiferroic với các đặc tính điện từ vượt trội, có thể ứng dụng trong các thiết bị như cảm biến và bộ nhớ điện từ.

1.2. Lịch sử nghiên cứu vật liệu multiferroic

Nghiên cứu về vật liệu multiferroic bắt đầu từ những năm 1950, với sự phát hiện đầu tiên về tính chất sắt điện và sắt từ trong các vật liệu perovskite. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng việc kết hợp các tính chất này có thể tạo ra các ứng dụng mới trong công nghệ hiện đại, như cảm biến từ trở và bộ nhớ đa trạng thái.

II. Thách thức trong nghiên cứu vật liệu multiferroic LaFeO3 PZT

Mặc dù có nhiều tiềm năng, việc nghiên cứu và chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT gặp phải một số thách thức. Một trong những vấn đề chính là sự liên kết giữa các tính chất sắt điện và sắt từ, điều này ảnh hưởng đến hiệu suất của vật liệu. Ngoài ra, việc chế tạo các mẫu vật liệu với cấu trúc tinh thể hoàn hảo cũng là một thách thức lớn.

2.1. Vấn đề liên kết điện từ trong vật liệu

Sự liên kết giữa tính chất sắt điện và sắt từ trong vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT thường yếu, dẫn đến hiệu suất không ổn định. Nghiên cứu cần tập trung vào việc cải thiện sự liên kết này để tối ưu hóa các tính chất điện từ của vật liệu.

2.2. Khó khăn trong chế tạo mẫu vật liệu

Chế tạo mẫu vật liệu LaFeO3-PZT với cấu trúc tinh thể hoàn hảo là một thách thức lớn. Các phương pháp chế tạo như sol-gel và gốm cần được tối ưu hóa để đảm bảo rằng các mẫu vật liệu có tính chất điện từ tốt nhất có thể.

III. Phương pháp chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3 PZT hiệu quả

Để chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT, các phương pháp như sol-gel và gốm được sử dụng phổ biến. Những phương pháp này cho phép kiểm soát tốt hơn cấu trúc tinh thể và tính chất điện từ của vật liệu. Việc tối ưu hóa các điều kiện chế tạo là rất quan trọng để đạt được các mẫu vật liệu có hiệu suất cao.

3.1. Phương pháp sol gel trong chế tạo LaFeO3

Phương pháp sol-gel cho phép chế tạo bột nano LaFeO3 với kích thước hạt nhỏ và cấu trúc tinh thể đồng nhất. Quá trình này bao gồm việc hòa tan các tiền chất trong dung môi và sau đó làm khô để thu được bột nano. Kết quả cho thấy vật liệu có tính chất điện từ tốt hơn so với các phương pháp khác.

3.2. Phương pháp gốm trong chế tạo PZT

Phương pháp gốm là một trong những phương pháp truyền thống để chế tạo vật liệu PZT. Quá trình này bao gồm việc trộn các bột nguyên liệu, nén và nung ở nhiệt độ cao. Phương pháp này giúp tạo ra các mẫu vật liệu với tính chất điện từ ổn định và hiệu suất cao.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn của vật liệu LaFeO3 PZT

Nghiên cứu về vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT đã cho thấy nhiều kết quả khả quan. Các mẫu vật liệu chế tạo từ phương pháp sol-gel và gốm đều thể hiện tính chất điện từ tốt, với khả năng ứng dụng trong các thiết bị điện tử hiện đại. Việc phát triển các ứng dụng như cảm biến từ trở và bộ nhớ đa trạng thái đang được nghiên cứu sâu hơn.

4.1. Tính chất điện từ của vật liệu LaFeO3 PZT

Các mẫu vật liệu LaFeO3-PZT cho thấy tính chất điện từ vượt trội, với khả năng điều khiển trạng thái điện từ bằng điện trường. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển các thiết bị điện tử mới, như cảm biến và bộ nhớ.

4.2. Ứng dụng trong công nghệ điện tử

Vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực công nghệ điện tử, từ cảm biến đến bộ nhớ. Các thiết bị sử dụng vật liệu này có thể hoạt động hiệu quả hơn, tiết kiệm năng lượng và tăng cường độ nhạy.

V. Kết luận và triển vọng tương lai của vật liệu multiferroic LaFeO3 PZT

Nghiên cứu và chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT đang mở ra nhiều triển vọng trong lĩnh vực vật liệu và công nghệ điện tử. Với những tiến bộ trong phương pháp chế tạo và hiểu biết về cơ chế hoạt động, vật liệu này có thể trở thành một phần quan trọng trong các thiết bị điện tử tương lai.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về vật liệu LaFeO3-PZT sẽ tiếp tục được mở rộng, với mục tiêu cải thiện tính chất điện từ và phát triển các ứng dụng mới. Các nghiên cứu sâu hơn về cơ chế liên kết giữa tính chất sắt điện và sắt từ sẽ là chìa khóa cho sự phát triển này.

5.2. Ứng dụng trong các thiết bị thông minh

Vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT có tiềm năng lớn trong việc phát triển các thiết bị thông minh, như cảm biến và bộ nhớ đa trạng thái. Sự kết hợp giữa tính chất điện và từ sẽ tạo ra những sản phẩm mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong công nghệ hiện đại.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ hus chế tạo và nghiên cứu vật liệu multiferroic lafeo3 pzt

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho một loạt các vật liệu tổng hợp Boraxit multiferoic sau này, chúng có cấu trúc phức tạp với nhiều nguyên tử trên một đơn vị công thức và nhiều hơn một đơn vị công thức trên một ô cơ sở. Số lớn các tương tác giữa các ion trong boraxit ngăn trở tính cách điện của các yếu tố bản chất gây nên tính đa tính sắt-multiferoic và là bản chất của liên kết giữa phân cực từ, phân cực điện và các thông số trật tự cấu trúc. Nghiên cứu về tính sắt từ-sắt điện bắt đầu từ ở Nga trong những năm 1950, với sự thay 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thế một số cation vị trí B có phân lớp quỹ đạo d 0 trong các oxit perovskite sắt điện bằng các cation từ có phân lớp quỹ đạo d n .Vật liệu sắt từ-sắt điện đầu tiên được chế tạo vào những năm đầu tiên của thập kỷ 60 thế kỷ 20 là (1-x)Pb(Fe2/3W1/3)O3 – xPb(Mg1/2W1/2)O3. Ở đây, ion Mg+2 và W+6 là nghịch từ và gây nên tính sắt điện và ion d5 Fe+3 tạo nên trật tự từ.

Các thí dụ khác có thể kể đến hợp chất Pb2(CoW)O6 là sắt điện-sắt từ. Hợp chất Pb2(FeTa)O6 chúng là sắt điện-phản sắt từ có tính sắt từ yếu xung quanh 10K như là kết quả của các ion sắt từ pha loãng, các vật liệu này có điểm Curie hay Néel khá thấp. Tuy nhiên, do sự liên kết từ-điện yếu trong hầu hết các vật liệu nên khó có thể ứng dụng trong thực tế. Vì vậy sau đó các hoạt động nghiên cứu đã bị giảm sút trong hai thập kỷ tiếp theo.

Sự quay trở lại vấn đề nghiên cứu đó đã được bắt đầu bằng nghiên cứu lý thuyết của N.Hill năm 2000 và bởi phát minh gần đây về cơ chế mới trong sắt điện TbMnO3, hexagonal YMnO3, RMn2O5, và Ni2V3O8. Các nghiên cứu cũng được khuyến khích bởi các triển khai gần đây về kỹ thuật chế tạo màng mỏng và các phương pháp thực nghiệm quan sát các đômen điện và từ. Schimit đã đưa ra thuật ngữ “multiferroic” vào năm 1994 để định nghĩa các vật liệu trong đó hai hay ba kiểu trật tự tính sắt (tính sắt điện, tính sắt từ và tính sắt đàn hồi- Ferroelectric, ferromagnetic and ferroelasticity) xảy ra đồng thời trong cùng một vật liệu. Ngày nay, việc sử dụng ngôn từ đó đã được mở rộng ra để chỉ cả những vật liệu thể hiện tính trật tự từ xa cùng với phân cực tự phát.

Ngôn từ “sắt điện từ”-“Ferroelectromagnets”- đã được sử dụng trước đây là để mô tả các vật liệu như thế. Một nhóm vật liệu quan trọng khác nữa là “Vật liệu điện từ tuyến tính”(Linear magnetoelectrics) thường được biết đến như là vật liệu điện từ (magnetoelectrics), chúng có trật tự từ xa nhưng lại không có phân cực tự phát. Tuy nhiên, phân cực điện có thể được tạo ra bởi từ trường ngoài. Trong biểu thức Landau, biểu thức năng lượng tự do tổng mô tả hiệu ứng ME (Magneto Electric) đối với các vật liệu phi tính sắt được viết như sau [4] 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 1 1 1 1 F ( E, H )  F0   0 j Ei E j   0  ij H i H j   ij Ei H j   ijk Ei H j H k   ijk H j Ei Ek  .1) Ở đây, ε0 và χ0 là điện thẩm và từ thẩm chân không, εij và χij là độ điện thẩm và từ thẩm tương đối, αij là tensor điện từ tuyến tính, và βijk và γijk là các hệ số điện từ bậc cao hơn.

Nếu ta lấy đạo hàm năng lương tự do này theo điện trường (E) thì khi đó ta nhận được độ phân cực (P). Nếu ta lấy đạo hàm theo từ trường (H) thì khi đó ta nhận được độ từ hóa M : F 1 1 Pi     0 ij E j   ij H j   ijk H j H k  .2) Ei 2 2 F 1 1 Mj    0  ij H i   ij Ei   ijk Ei E jk  .3) H j 2 2 Tất cả các vật liệu điện từ tuyến tính chứa các số hạng tuyến tính αijEiHj, nhưng điều đó không có nghĩa nhất thiết chúng là đa tính sắt. Thí dụ, Cr 2O3 có tính điện từ nhưng không phải là sắt điện. Ngược lại cũng thế: không phải tất cả các chất đa tính sắt nhất thiết là vật liệu điện từ.

Thí dụ, YMnO 3 là đa tính sắt đó là phản sắt từ và sắt điện, nhưng hiệu ứng điện từ không phải là do tính đối xứng trong hợp chất này. Tuy nhiên, đa tính sắt có nghĩa là sắt từ và sắt điện (ferromagnetoelectric) nhất thiết phải trên cơ sở tính điện từ đối xứng thí dụ, chất Ni3B7O13I là sắt điện và phản sắt từ nghiêng (canted antiferromagnet) ở nhiệt độ thấp. Đo hằng số điện môi là việc phải làm khi nghiên cứu vật liệu sắt điện. Luôn luôn phải đo sự phụ thuộc nhiệt độ của hằng số điện môi ở nhiệt độ chuyển (TC).

Sự bất thường của tính điện môi cũng được quan sát ở nhiệt độ chuyển pha từ (TN) của các vật liệu khác nhau, thí dụ như Cr2O3 điện từ tuyến tính, chất đa tính sắt BaNiF4 và BaMnF4 và các vật liệu không phải điện từ tuyến tính cũng không phải đa tính sắt như MnO, MnF2. Các vật liệu đó có thể được xem là loại chất ”điện môi từ” (magnetodielectric). Ngôn từ này lần đầu tiên được Landau và cộng sự đề nghị khi nghiên cứu tính liên kết giữa hằng số điện môi và độ từ hóa của chất sắt từ SeCuO 3 và chất phản sắt từ FeCuO3. Cả hai hợp chất này thể hiện điện môi bất thường tại điểm chuyển pha từ và thể hiện “hiệu ứng điện môi từ”, đó là sự thay đổi hằng số điện môi 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com do từ trường ngoài.

Hiện tượng tương tự cũng được quan sát trong chất thuận điện lượng tử EuTiO3, ở đó sự thay đổi hằng số điện môi đến 7% xảy ra ở từ trường 1. Không một hợp chất nào trong số đó có phân cực tự phát và hiệu ứng ME tuyến tính mà không liên quan đến tính đối xứng. Ba loại vật liệu: (i) Điện từ tuyến tính Pi=aijH và Mi=aijEj, thí dụ: Cr2O3, Sm2O4, TeCoO3 GdVO4 Ho2BaNiO4; (ii) Đa tính sắt M&P, thí dụ: Boracite, BiFeO3, TbMnO3, TbMnO3, MnVO4, Ni3V2O8, CuO, và (iii) Điện môi từ không có hiệu ứng P và ME, thí dụ: SeCuO3, TeCuO3, EuTiO3, MnO, MnF2, có mối liên quan chặt chẽ với nhau. Theo định nghĩa một vật liệu là đa tính sắt điện từ phải đồng thời phải có tính sắt từ và tính sắt điện.

Do đó các tính chất vật lý, cấu trúc và các tính chất điện bị bó hẹp trong những vật liệu xuất hiện cả hai tính chất sắt điện và sắt từ. Các vật liệu đó phải đạt được các yêu cầu sau: Tính đối xứng: Yêu cầu đầu tiên cho sự tồn tại tính sắt điện là sự sai lệch cấu trúc làm cho chúng lệch khỏi tính đối xứng cao và làm loại bỏ tâm đối xứng và hình thành phân cực điện. Có 31 nhóm điểm có thể có phân cực điện tự phát, P, và 31 nhóm điểm này có thể có sự phân cực từ tự phát, M. 13 nhóm điểm (1, 2, 2‟, m, m‟, 3, 3m‟, 4, 4m‟m‟, m‟m2‟, m‟m‟2‟, 6 và 6m‟m‟) được tìm thấy trong hai tập hợp đó, cho phép đồng thời tồn tại hai tính chất sắt từ-sắt điện trong cùng một pha.

Tính chất điện: Theo định nghĩa vật liệu sắt điện phải là vật cách điện (nếu không khi đặt vào một điện trường thì sẽ tạo ra một dòng điện chạy qua nó chứ không phải là tạo nên phân cực điện). Vật liệu sắt từ thường là kim loại. Thí dụ, các nguyên tố sắt từ Fe, Co, Ni và các hợp kim của chúng có mật độ trạng thái cao ở mức Fermi tạo nên tính kim loại. Vì vậy người ta có thể giả định rằng sự tồn tại đồng thời của tính chất từ và sắt điện đơn giản chỉ có ở các vật liệu từ cách điện.

Đa số các feri-từ hay sắt từ yếu là cách điện. Thêm vào đó, cũng có một số nhỏ chất sắt điện-phản sắt từ, thậm chí chất phản sắt từ thường là vật liệu cách điện. Tính hóa học: Hầu hết các vật liệu sắt điện perovskite oxit đều có các cation B có cấu hình điện tử ở phân lớp quỹ đạo d 0. Đối với các chất sắt từ, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ferri-từ, phản sắt từ có lớp quỹ đạo dn tạo nên các momen từ định sứ.

Tuy nhiên rõ ràng rằng, ngay cả khi phân lớp d trên các cation nhỏ bị chiếm đầy một phần thì cũng không có khuynh hướng nó làm sai lệch mạng để chuyển tâm đối xứng. Điều đó có thể là kết quả của một số yếu tố sau đây không: Kích thước của các cation nhỏ. Phải chăng các ion kim loại chuyển tiếp có phân lớp d bị chiếm một phần có kích thước quá lớn làm lệch tâm bát diện oxy? Bán kính ion của các cation d0 B của các perovskite sắt điện: Ti+4 – 74.5 pm, Nb+5 – 78 pm và Zr+4 – 86 pm. Một số các cation dn điển hình trong các peroskite oxit không sắt điện có kích thước nhỏ như Mn3+(d4),Ti3+(d1) và V+4(d1) có bán kính ion là 78.5 pm, 81pm và 72 pm tương ứng.

Vì vậy, các cation vị trí B điển hình có phân lớp d bị chiếm cũng không lớn hơn bán kính của phân lớp d 0. Vậy ta có thể kết luận rằng kích thước cation B không phải là yếu tố quyết định sự tồn tại hay không tồn tại tính sắt điện. Sai lệch cấu trúc Vật liệu sắt điện phải chịu sự chuyển pha đến pha ở nhiệt độ thấp và không có tâm đối xứng. Các chất sắt điện truyền thống có sự dịch chuyển tâm của cation nhỏ (B) khỏi tâm của bát diện oxy.

Tuy nhiên đối với các cation có quỹ đạo d bị chiếm thì khuynh hướng chịu sai lệch Jahn- Teller mạnh và nó sẽ là hiệu ứng cấu trúc chiếm ưu thế. Các sai lệch cấu trúc Janh – Teller ít có khả năng làm dịch tâm hơn so với các cấu trúc không bị méo khác. Không dễ dàng tìm ra những vật liệu multiferroic mới, bởi vì các cơ chế dẫn đến sự liên kết (coupling) tính sắt từ và sắt điện trong vật liệu đó nói chung còn chưa được làm sáng tỏ. Tính sắt điện thường được tạo ra bởi các hợp chất kim loại có lớp quỹ đạo d còn trống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu và chế tạo vật liệu multiferroic LaFeO3-PZT" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quá trình phát triển và ứng dụng của vật liệu multiferroic, đặc biệt là sự kết hợp giữa LaFeO3 và PZT. Nghiên cứu này không chỉ làm rõ các tính chất điện từ của vật liệu mà còn chỉ ra tiềm năng ứng dụng trong các thiết bị điện tử và cảm biến. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích về cách mà vật liệu này có thể cải thiện hiệu suất của các thiết bị công nghệ hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ khoa học sự thay đổi tính chất của hợp chất thiếu lantan la0 60ca0 30mno3 δ, nơi nghiên cứu về các hợp chất perovskite và ứng dụng của chúng. Bên cạnh đó, tài liệu Luận án tiến sĩ hus tính chất điện và từ của các perovskite la23ca13pb13mn1 xtmxo3 tm co zn trong vùng nhiệt độ 77 300k sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các tính chất điện từ của các vật liệu tương tự. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ hus hiệu ứng pha tạp và độ hạt trong phổ hóa tổng trở của hệ lani5 xgex cũng là một nguồn tài liệu quý giá để tìm hiểu về các hiệu ứng trong vật liệu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực vật liệu multiferroic và ứng dụng của chúng.