phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo Luận văn gồm ba chương: Chƣơng 1 Những vấn đề lý luận cơ bản về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển Chƣơng 2 Các quy định của pháp luật về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển Chƣơng 3 Thực trạng ký kết, thực hiện hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỢP ĐỒNG VẬN CHUYỂN HÀNG HOÁ BẰNG ĐƢỜNG BIỂN QUỐC TẾ 1.1 Vai trò của vận tải biển Ngày nay, trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu hướng của thế giới giữa các nước càng ngày càng có sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau thông qua sự chu chuyển các luồng hàng hoá khổng lồ từ quốc gia này đến quốc gia khác. Sự phát triển của xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế có tác động tích cực đến sự phát triển thương mại kéo theo hàng loạt các hoạt động khác trong đó có hoạt động vận tải. Trong hoạt động vận tải người ta sử dụng nhiều phương thức vận tải khác nhau như: vận tải đường sắt, vận tải hàng không, vận tải đường ống, vận tải biển… mỗi phương thức vận tải giữ một vai trò và vị trí khác nhau do phụ thuộc vào đặc điểm của mối quan hệ buôn bán và đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng phương thức vận tải.
Trong vận chuyển hàng hoá quốc tế, vận tải đường biển đóng vai trò quan trọng nhất, với 80% khối lượng hàng hoá buôn bán quốc tế được vận chuyển bằng phương thức này. Năm 2001 ngành vận tải đường biển vận chuyển 5,435 tỷ tấn hàng hoá trên một chặng đường 4,6 triệu hải lý, với khối lượng hàng hoá luân chuyển khoảng 24 nghìn tỷ tấn/hải lý. Trong suốt thế kỷ qua, khối lượng hàng hoá trong buôn bán quốc tế được vận chuyển đã tăng hơn 4 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Dự kiến kiến đạt 30 nghìn tỉ vào năm 2010 và 40 nghìn tỷ tấn/hải lý vào 2015 [1, tr.
Sở dĩ vận tải đường biển được sử dụng rộng rãi như vậy trong thương mại quốc tế là nhờ có những ưu điểm nổi bật so với các phương thức vận chuyển hàng hoá khác đó là: - Vận tải đường biển có năng lực vận chuyển lớn: phương tiện vận tải trong vận tải đường biển là các tàu có sức chở rất lớn, lại có thể chạy nhiều tàu trong cùng một thời gian trên cùng một tuyến đường. - Thích hợp cho việc vận chuyển hầu hết các loại hàng hoá thương mại quốc tế. Đặc biệt là thích hợp và hiệu quả là các loại hàng rời có giá trị thấp như than, quặng, ngũ cốc… - Chi phí đầu tư xây dựng cho các tuyến đường hàng hải thấp: các tuyến đường hầu hết là những tuyến đường giao thông tự nhiên nên không đòi hỏi nhiều vốn, nhiều nguyên liệu, sức lao động để xây dựng, duy trì bảo quản. - Giá thành thấp: giá thành vận tải đường biển vào loại thấp nhất trong tất cả các phương thức vận tải do trọng tải tầu biển lớn, cự ly vận chuyển trung bình lớn, biên chế ít nên lao động trong ngành vận tải biển là cao.
Tuy nhiên, vận tải biển cũng có một số nhược điểm sau: - Vận tải biển phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thiên nhiên, điều kiện hàng hải: tàu biển thường gặp rất nhiều rủi ro hàng hải như mắc cạn, đắm cháy, đâm va nhau, đâm va phải đá ngầm. Theo thống kê của các công ty bảo hiểm, hàng tháng trên thế giới có khoảng 300 tàu biển bị các tai nạn trên, trong đó nhiều trường hợp bị tổn thất toàn bộ [2, tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Tốc độ của tàu biển tương đối thấp. Tốc độ của các tàu biển hiện nay chỉ khoảng 14-20 hải lý/giờ (1 hải lý bằng 1,85 km) trong khi đó tốc độ của phương tiện vận tải hàng không là 900-1000 km/giờ.
Do vậy vận tải biển không thích hợp với việc vận chuyển các loại hàng hoá đòi hỏi thời gian giao hàng nhanh. Nước ta có một bờ biển dài từ Bắc tới Nam, là một điều kiện tự nhiên lý tưởng cho việc phát triển vận tải biển. Do vậy, ngành vận tải biển được xác định là một ngành kinh tế kỹ thuật quan trọng, là hạ tầng cơ sở vật chất tạo tiền đề cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, ngành hàng hải Việt Nam trong thời gian qua đã phát triển cả về số lượng và chất lượng.
Về đội tàu: Nếu như năm 1997, đội tàu biển Việt Nam mới có tổng số 287 chiếc tương đương 517.361 DWT thì tính đến 30/06/2004, đội tàu biển nước ta có 967 chiếc, với tổng trọng tải là 2.946 GT), trong đó đội tàu chở hàng gồm 583 chiếc với tổng trọng tải là 1. Về cảng biển: Tính đến tháng 06- 2004, cả nước đã có hơn 128 cảng biển lớn nhỏ với tổng sản lượng hàng hoá thông qua cảng biển 69,408 triệu tấn. Ngoài ra, còn có hơn 10 khu chuyển tải để tăng khả năng thông qua hàng hoá và tạo điều kiện cho những tàu có trọng tải lớn ra vào cảng an toàn và thuận tiện [3, tr. Sự phát triển của của Ngành vận tải biển nước ta đã đóng góp một phần tích cực vào việc thực hiện chiến lược đẩy mạnh xuất khẩu, tăng cường nhập khẩu và tăng thu nguồn ngoại tệ phục vụ cho quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, đã và đang tạo đà cho nền kinh tế quốc dân phát triển do vận tải biển chính là cầu nối giữa thị trường trong nước và nước ngoài.2 Khái niệm về hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển quốc tế.
Như chúng ta đã biết, trong buôn bán quốc tế hợp đồng mua bán ngoại thương gắn bó chặt chẽ với hợp đồng vận chuyển hàng hoá. Sau khi hợp đồng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mua bán ngoại thương được ký kết thì trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán ngoại thương, việc thuê tàu để chuyên chở hàng được tiến hành dựa vào ba căn cứ sau: a) những điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương; b) đặc điểm của hàng; c) điều kiện vận tải. Một số điều khoản của hợp đồng mua bán ngoại thương đồng thời là những điều khoản quy định sự phù hợp trong hợp đồng vận chuyển hàng hoá chẳng hạn như một số điều khoản về tên hàng, số lượng, chất lượng hàng hoá, cảng đi, cảng đến, thanh toán cước phí vận tải… Việc quyết định hình thành hợp đồng thuê tàu vận chuyển hàng hoá được ghi nhận trong hợp đồng mua bán ngoại thương chính là việc xác định trách nhiệm về vận tải giữa người mua hàng và người bán hàng tại điều khoản điều kiện cơ sở giao hàng như điều kiện Giao hàng Tại xưởng (EXW), giao hàng chưa thông quan tại nhập khẩu (DDU), tiền hàng, phí bảo hiểm và cước phí (CIF)… Như vậy, việc quy định trách nhiệm tổ chức vận chuyển hàng hoá trong hợp đồng mua bán ngoại thương là điều kiện để người bán hàng hoặc người mua hàng phải đi thuê tàu để chở hàng. Việc đi thuê tàu để chở hàng chính là người thuê vận chuyển (người bán hoặc người mua hàng) ký kết hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển với người vận chuyển.
Theo các nhà chuyên môn về hàng hải thì “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển là sự thoả thuận về vận chuyển hàng hoá, hoặc lai dắt các phương tiện nổi từ địa điểm này sang địa điểm khác. Chủ tàu hoặc người vận chuyển thực hiện việc vận chuyển còn người thuê vận chuyển trả tiền cước vận chuyển theo đơn giá qui định” [4]. Theo khoản 1 Điều 61 Bộ Luật hàng hải Việt Nam 1990, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển được định nghĩa như sau: “Hợp đồng vận chuyển hàng hoá là hợp đồng được ký kết giữa người vận chuyển và người 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thuê vận chuyển mà theo đó người vận chuyển thu tiền cước vận chuyển do người thuê vận chuyển trả và dùng tàu biển để vận chuyển hàng hoá từ cảng bốc đến cảng đích. Hợp đồng vận chuyển được ký kết theo các hình thức do các bên thoả thuận và là cơ sở để xác định quan hệ pháp luật giữa người vận chuyển và người thuê vận chuyển”.
Qua định nghĩa trên, có thể thấy được các đặc điểm của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế như sau: - Đối tượng của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế là hàng hoá được dịch chuyển từ nước này đến nước khác. - Chủ thể của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế gồm người thuê vận chuyển và người vận chuyển. - Nội dung của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế: đó chính là các điều khoản quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý của các bên trong hợp đồng. - Hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế được ký kết dưới hình thức văn bản.
Thông thường hình thức của hợp đồng này là vận đơn (bill of lading) trong trường hợp vận chuyển theo chứng từ hay hợp đồng thuê tàu được các bên ký kết trong trường hợp thuê tàu chuyến.3 Các hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đƣờng biển quốc tế. Các hình thức của hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường biển quốc tế được thể hiện qua các phương thức kinh doanh tàu thuyền vận chuyển hàng hoá đường biển. Phương thức kinh doanh tàu thuyền vận chuyển hàng hoá đường biển là toàn bộ các hoạt động sử dụng tàu vào mục đích kinh tế của chủ tàu hoặc người thuê tàu. Dựa vào sự khác nhau của các phương thức kinh 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com doanh tàu thuyền vận chuyển đường biển có thể phân hợp đồng vận chuyển hàng hoá đường biển thành: - Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ hay còn được gọi là vận chuyển tàu chợ, vận chuyển tàu tuyến (liner transport).
- Hợp đồng vận chuyển tàu thuê (shipping by chartering) trong đó bao gồm: tàu thuê chuyến (voyage charter), tàu thuê định kỳ (time charter) và thuê tàu trần (demise charter).1 Hợp đồng vận chuyển theo chứng từ/tàu chợ Tàu chợ là tàu kinh doanh thường xuyên trên một tuyến hàng hải nhất định, ghé qua những cảng nhất định và theo một lịch trình đã định trước.