Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Những vấn đề cơ bản về Hội đồng nhân dân 1. Khái niệm HĐND được thành lập từ cuối năm 1945 theo Sắc lệnh số 63 ngày 22 tháng 11 năm 1945 về tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính ở xã, huyện, tỉnh, kỳ và Sắc lệnh số 77 ngày 21-12-1945 về tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính huyện, khu phố. Theo hai sắc lệnh này, chính quyền địa phương có bốn cấp: cấp kỳ, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, trong đó cấp tỉnh và cấp xã là hai cấp chính quyền hoàn chỉnh có HĐND và Ủy ban hành chính, còn cấp kỳ và cấp huyện chỉ có Ủy ban hành chính.
Như vậy, thời điểm này HĐND được thành lập ở cấp xã và tỉnh bằng hình thức bầu trực tiếp của nhân dân, nhiệm kỳ của HĐND chỉ 2 năm. Sau nhiều lần sửa đổi, bổ sung từ Hiếp pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp 2013 về quy định lại các đơn vị hành chính ở nước ta; kèm theo đó ban hành Luật tổ chức HĐND và Ủy ban hành chính năm 1962: HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương do nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương (vừa thay mặt cho nhân dân địa phương, vừa thay mặt cho nhà nước ở địa phương). Luật tổ chức HĐND và UBND quy định: HĐND được bầu từ 15-45 đại biểu (tùy theo dân số, vùng, miền), nhiệm kỳ là 2 năm, thực hiện các chủ trương, chính sách và công tác của Nhà nước ở địa phương; quyết định các biện pháp giúp đỡ và giám sát các hợp tác xã và các tổ chức kinh tế tập thể khác về các mặt xây dựng và thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh, phân phối, chấp hành các chế độ, thể lệ tài chính, giá cả và làm nghĩa vụ đối với Nhà nước; xây dựng, bảo dưỡng và quản lý đường giao thông, các cơ sở văn 9 e hoá, thông tin, giáo dục, y tế, xã hội, phân phối, lưu thông, dịch vụ ở địa phương; bảo vệ tài sản xã hội chủ nghĩa; bảo đảm an ninh, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương; vận động và giúp đỡ nông dân cá thể, người làm nghề thủ công và những người lao động riêng lẻ khác tiến lên con đường làm ăn tập thể; xây dựng nếp sống mới, xoá bỏ nếp sống lạc hậu, bài trừ mê tín, dị đoan. Khoản 1 Điều 113 Hiến pháp năm 2013 quy định: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên”.
Như vậy, từ những quan điểm của Nhà nước ta qua các giai đoạn lịch sử đều cho thấy một điểm chung về khái niệm của HĐND là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, giúp phát huy dân chủ, do Nhân dân địa phương bầu ra và chịu trách nhiệm trước Nhân dân về hoạt động của mình. Theo đó Điều 6 Luật tổ chức chính quyền địa phương quy định: Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình. Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND. Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật này và các quy định, khác của pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND.
Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp. 10 e Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND. Nhiệm kỳ của HĐND là năm năm, nhiệm kỳ của Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Đại biểu HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp. Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân HĐND là tổ chức hợp thành cùng với UBND tạo nên BMNN ở địa phương.
HĐND cùng các cơ quan nhà nước ở địa phương thực hiện chức năng quản lý nhà nước theo lãnh thổ, kết hợp với quản lý theo ngành và lĩnh vực, kết hợp hài hòa giữa lợi ích của Nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước. Trong chính quyền địa phương, HĐND được xác định là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Vai trò của HĐND huyện được thể hiện như sau: Một là, HĐND huyện là cơ quan đại diện cho ý chí của Nhân dân địa phương, do Nhân dân trong Huyện bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân Huyện và cơ quan nhà nước cấp trên. HĐND là cơ quan duy nhất do cử tri địa phương bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín.
HĐND là cơ quan đại diện tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trên địa bàn, vì từ những phản ánh, ý kiến, nguyện vọng chính đáng của cử tri, HĐND có trách nhiệm tổng hợp báo cáo lên HĐND cấp trên (thuộc thẩm quyền của cấp trên) và yêu cầu UBND cùng cấp giải quyết, giám sát việc giải quyết các ý kiến của UBND cùng cấp. Đại biểu HĐND là người đại diện cho trí tuệ, tinh thần và sức mạnh của Nhân dân địa phương; hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng và các yêu cầu chính đáng 11 e của Nhân dân, do đó nắm và quyết định mọi vấn đề sát với thực tế và phù hợp với lợi ích nhân dân cả nước nói chung và Nhân dân địa phương nói riêng. HĐND chịu sự kiểm tra, giám sát của Nhân dân địa phương, các đại biểu HĐND không còn được Nhân dân tín nhiệm sẽ bị HĐND bãi miễn tư cách đại biểu. Vậy, HĐND là cơ quan nằm trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương, có vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần thực hiện chế độ dân chủ XHCN, xây dựng và quản lý mọi mặt của đời sống nhân dân địa phương về kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng.
là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, trực tiếp đưa chủ trương, nghị quyết, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống. Hai là, HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương được thể hiện các mặt sau đây: + Có quyền căn cứ vào Hiến pháp và pháp luật ban hành Nghị quyết HĐND quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng an ninh. + Căn cứ vào pháp luật bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh của UBND là cơ quan chấp hành của mình, bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân dân của TAND cùng cấp, có quyền bỏ phiếu tín nhiệm đối với các chức danh do HĐND bầu ra. + Có quyền giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật ở địa phương, đồng thời chịu sự giám sát, hướng dẫn của HĐND-UBND cấp trên.
Như vậy, HĐND huyện vừa là một tổ chức có tính chất quyền lực, vừa có tính chất đại diện, vừa thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, chức năng quản lý xã hội ở địa phương. Trong tính chất và hoạt động của mình phải thể hiện đầy đủ cả hai mặt thì mới thực sự là cơ quan nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân Chức năng của HĐND là phương diện, mặt hoạt động chủ yếu của HĐND, xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND trong hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương mà pháp luật quy định chức năng, nhiệm vụ của HĐND. Theo đó HĐND thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng quyền hạn đã được phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp, ủy quyền để hoạt động thể hiện chức năng của mình.
Trên cơ sở tính chất hoạt động của HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, do Nhân dân bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân và cơ quan Nhà nước cấp trên về hoạt động của mình. Theo Khoản 2 Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định: “HĐND quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND” và theo Điều 26 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định thì HĐND có chức năng chủ yếu sau: Thứ nhất, chức năng quyết định: Chức năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, Luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để ra các quyết định (dưới hình thức ban hành Nghị quyết) về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND cấp đó. Chẳng hạn như: các vấn đề của địa phương do Luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và Pháp luật ở địa phương và việc thực hiện Nghị quyết của HĐND. Nội dung phạm vi điều chỉnh Nghị quyết của HĐND các cấp phụ thuộc vào nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND từng cấp do Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định.
Có thể kể một số Nghị quyết của HĐND về các lĩnh vực như: Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp Luật; xây 13 e dựng chính quyền, kinh tế, tài nguyên, môi trường, giáo dục đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội… Dựa vào tính chất pháp lý, nghị quyết của HĐND gồm 2 loại: Nghị quyết quy phạm và nghị quyết cá biệt.