Chương 1 TRUYỀN KỲ MẠN LỤC CỦA NGUYỄN DỮ VÀ LAN TRÌ KIẾN VĂN LỤC CỦA VŨ TRINH TRONG DÒNG CHẢY TRUYỆN TRUYỀN KỲ VIỆT NAM 1. Truyện truyền kỳ Việt Nam - Quá trình hình thành và những chặng đường sáng tạo 1. Quá trình hình thành Truyện truyền kỳ Việt Nam có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài. Trong lịch sử văn hóa - văn học Việt Nam, truyện truyện kỳ được xem là di sản văn hóa có ý nghĩa to lớn trong đời sống xã hội hiện thực mặc dù thế giới trong truyện truyền kỳ là thế giới hư huyễn, mộng ảo và bao giờ cũng có các lớp nhân vật vừa có con người thật và cả nhân vật thần thánh, yêu ma.
Ở chuyên luận Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục [44], Trần Ích Nguyên trong mục Nguồn gốc truyện truyền kỳ, đã nêu khá rõ ràng về nguồn gốc phát sinh của truyện truyền kỳ. Theo ông, có thể quy loại như sau: Thứ nhất, truyện truyền kỳ được xem như là sự mô phỏng thần thoại, chí quái của văn học Lục triều. Sự mô phỏng này được thể hiện ở nhiều phương diện như: Đề tài, cốt truyện, kết cấu, hình tượng. Thứ hai, truyện truyền kỳ bắt nguồn từ thơ văn, truyện ký trong văn học cổ điển Trung Hoa.
Đó là những chi tiết, tình huống được đúc rút từ kho ngữ liệu, điển cố trong các tác phẩm văn học. Đồng thời, một số đoạn văn, trích đoạn thơ ca, từ khúc trong truyện truyền kỳ cũng chịu ảnh hưởng bởi các tác giả văn học thuộc giai đoạn trước. Thứ ba, nguồn gốc của truyện truyền kỳ còn là những ghi chép, văn bản hóa các truyền thuyết dân gian do chính tác giả tự sưu tầm và huyền thoại hóa lại những thần tích, thần phả mà các tác giả đó đã sưu tập, ghi chép, bổ cứu được. Thứ tư, nguồn gốc văn học và khả năng sáng tạo, hư cấu của tác giả văn học.
Họ đã tưởng tượng và sáng tạo trên cơ sở kế thừa, chọn lọc và nền tảng của các câu chuyện được lưu truyền. Vì thế, theo Trần Ích Nguyên, điều làm nên giá trị của các tác phẩm truyện truyền kỳ vẫn là tài năng, trí tưởng tượng vô cùng tận của các tác giả trung đại Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Hơn mười thế kỷ hình thành và phát triển, truyện truyền kỳ Trung Quốc đã để lại những thành tựu rực rỡ, có sức ảnh hưởng lớn đến nền văn học của các nước đồng văn trong khu vực. Trong đó, tác phẩm Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu có sức lan tỏa mạnh nhất, rõ rệt nhất thúc đẩy sự ra đời các tập truyện truyền kỳ ở ba nước Đông Á còn lại như Kim Ngao tân thoại của Kim Thời Tập (1435 – 1493, Triều Tiên), Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (đầu thế kỷ XVI, Việt Nam), Già tỳ tử của Asai Tyohi (1612 - 1691, Nhật Bản).
Như vậy, văn chương truyền kỳ, từ Trung Quốc đã ảnh hưởng đến văn chương thời trung đại của các nước phương Đông nói chung và nền văn học trung đại Việt Nam nói riêng. 12 Trong lịch sử văn học Việt Nam, chữ “truyền kỳ” (dùng để chỉ văn loại, văn thể) xuất hiện khá muộn. Dấu vết rõ ràng có thể tiếp cận được, sớm nhất cũng phải đến thế kỷ XVI với tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, còn trước đó chỉ thấy nói nhiều đến “u linh”, “quái lục”, “mộng lục”…Tuy nhiên, những đặc điểm của thể loại truyền kỳ đã xuất hiện khá rõ nét từ Thánh Tông di thảo (thế kỷ XV) và có phần nhạt hơn trong các tác phẩm trở về trước như Lĩnh Nam chích quái lục, Việt điện u linh…Còn theo Vũ Thanh thì truyện kỳ ảo của Việt Nam đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ XIII với truyện Ứng Minh trì dị sự (Chuyện lạ ở ao Ứng Minh) [73, tr. Như vậy, thể loại truyện truyền kỳ của Việt Nam đã manh nha xuất hiện từ những buổi đầu của văn học viết.
Và dù có nguồn gốc từ truyện truyền kỳ của Trung Quốc nhưng truyện truyền kỳ Việt Nam có một quá trình hình thành, phát triển nội sinh, gắn liền với nền văn hóa dân tộc, đặc biệt là văn hóa dân gian và văn hóa lịch sử. Ngoài ra, truyện truyền kỳ Việt Nam trên chặng đường hình thành và phát triển của mình nó còn tiếp thu, chịu ảnh hưởng của truyện truyền kỳ các nước trong khu vực (nhất là các nước “đồng văn”), từ đó tạo nên dấu ấn của riêng mình. Con đường hình thành nên truyện truyền kỳ là một quá trình lâu dài, phức tạp nhưng nhìn chung vẫn theo mấy phương cách chính: thứ nhất, quá trình “tân biên” các yếu tố văn hóa - văn học bản địa; thứ hai, mô phỏng, tiếp biến hoặc hư cấu sáng tạo trên cơ sở cảm hứng “kỳ nhân quái sự” [41]. Con đường “tân biên” của truyện truyền kỳ được hiểu là làm mới những cái đã có sẵn trước đó, là kết quả của sự tiếp sức, thêm thắt, nâng cao yếu tố tiền thân (truyện kể dân gian).
Trong lịch sử văn học Việt Nam trung đại, “truyện truyền kỳ với tư cách là một dạng thức đoản thiên tiểu thuyết, một mặt kế thừa các giá trị tinh thần thiêng liêng trong văn học dân gian, mặt khác phản ánh toàn diện tư duy, quan niệm con người Việt Nam trong suốt mười thế kỷ tồn tại xã hội phong kiến” [20; tr. Ban đầu, truyện truyền kỳ chỉ là những “mảnh” thuộc về đời sống văn hóa dân gian, từ đó được bồi tụ để dần hiện rõ hình hài và được các nhà Nho tạo tác bằng cách định hình yếu tố “tiền thân” thành văn bản ổn định. Tiếp theo là chu trình “tôn tạo” tác phẩm (dưới dạng tục biên, nhuận sắc, bổ di…) để “làm mới” văn bản. Có thể kể đến những tác phẩm được sáng tác theo con đường “tân biên” này như: Tân đính hiệu bình Việt điện u linh tập, Tân đính Lĩnh Nam chích quái lục…).
Phương thức “tân biên” để hình thành tác phẩm truyền kỳ diễn ra khá ổn định (dù nội dung và mục đích không hề giống nhau). Ngoài truyện truyền kỳ được hình thành theo lối “tân biên” các tác giả trung đại còn sử dụng con đường hư cấu để sáng tác ra những tác phẩm truyền kỳ chứa đầy yếu tố “nhân kỳ quái sự”, làm mờ nhạt đi các dấu ấn văn hóa - lịch sử so với các truyện “tân biên”. Xét trong toàn bộ di sản truyện truyền kỳ Việt Nam, mặc dù số lượng truyện truyền kỳ theo lối hư cấu có phần ít hơn nhưng nó chính là dấu mốc, đánh dấu sự 13 chuyển biến tích cực trong tư duy của các tác giả thời bấy giờ, chẳng hạn như những suy ngẫm về hạnh phúc, tình yêu đôi lứa, lẽ công bằng. Tiêu biểu cho truyện truyền kỳ viết theo lối hư cấu gồm: Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), (Nguyễn Dữ), Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm)… Có thể nói, con đường hình thành và phát triển của thể loại truyện truyền kỳ Việt Nam khá quanh co, phức tạp và chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố.
Như đã trình bày ở trên, truyện truyền kỳ tựu trung được hình thành theo con đường “tân biên” các yếu tố văn hóa - văn học Việt (những yếu tố vốn đã sinh sôi và được tàng trữ trong cộng đồng) rồi định dạng thành ra các truyện truyền kỳ. Ngoài ra, truyền kỳ Việt còn được hình thành theo phương cách hư cấu, sáng tạo hoàn toàn mới. Nhưng dù truyện truyền kỳ được hình thành theo phương cách nào đi chăng nữa thì đặc trưng loại hình vẫn không thay đổi. Những chặng đường sáng tạo Là một thể loại quan trọng của văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam, quá trình phát triển của truyền kỳ khá tương đồng với quá trình phát triển của văn xuôi trung đại cho nên có thể chia quá trình phát triển truyện truyền kỳ theo các giai đoạn như: - Từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIV Đây là giai đoạn manh nha của thể loại truyền kỳ.
Vào buổi đầu của văn học viết, văn xuôi tự sự chưa tách ra khỏi văn học dân gian và văn học chức năng, chủ yếu là chức năng lịch sử và tôn giáo nhưng xét thấy tính chất truyền kỳ bắt đầu xuất hiện ít nhiều trong những tác phẩm văn xuôi giai đoạn này như Việt điện u linh, Thiền uyển tập anh, Tam Tổ thực lục, Lĩnh Nam chích quái…Các tác phẩm này sưu tầm, ghi chép những câu chuyện dân gian, hành trạng của các vị cao tăng rồi được cải biên thành những tác phẩm mới với các yếu tố hoang đường, kỳ ảo, nội dung tập trung khẳng định chủ quyền, độc lập của nước Đại Việt, chuyện về địa linh nhân kiệt - những con người tài năng của dân tộc. Trước tiên phải kể đến Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên - một trong những tác phẩm được xem là ra đời sớm nhất (nửa đầu thế kỷ XIV). Trên đại thể, sách được chia làm 3 phần với 27 thiên: phần một là “Lịch đại đế vương” gồm 6 thiên; phần hai là “Lịch đại phụ thần” gồm 11 thiên và phần ba là “Hạo khí anh linh” với 10 thiên. Dựa vào lời tự bạch của tác giả thì ý tưởng khi viết Việt điện u linh tập là để “ghi chép”, “phân loại” về thần nhân mà cụ thể là về 27 vị thần được thờ trong đền, miếu thời Lý - Trần.
Tất thảy đều được đặt trong một màn sương khói linh diệu nhằm khẳng định lòng yêu nước của các nhân vật và niềm tự hào của nhân dân đối với nhân vật lịch sử. Lại Nguyên Ân đã khẳng định trong Từ điển văn học Việt Nam - từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX rằng: “bản thân việc thiên về những điều huyền bí như ở đây đã khiến những ghi chép này có thể được xem như một dạng sáng tác huyền thoại và có thể xếp vào thể loại truyền kỳ” [1; tr 609]. Tiếp đến là tác phẩm Thiền uyển tập anh ngữ lục (khuyết danh) ra đời vào 14 khoảng thế kỷ XIV. Cũng như Việt điện u linh tập, các yếu tố huyền thoại được sử dụng trong các truyện Thiền uyển tập anh ngữ lục cũng nhằm để đề cao nhân vật có thật trong lịch sử Phật giáo, thể hiện sự tôn kính đối với nhân vật ấy.
Sách gồm 2 quyển với 47 thiên ghi chép về lai lịch, hành trạng của 67 vị thiền sư, trưởng lão thuộc các phái Vô Ngôn Thông, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Thảo Đường.