CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Giới thiệu về chủ nghĩa nữ quyền Một số quan niệm, ý kiến bàn luận về nữ quyền: Theo Wikipedia thì “Chủ nghĩa nữ giới hay chủ nghĩa nữ quyền, chủ nghĩa duy nữ là một tập hợp của các phong trào và ý thức hệ nhằm mục đích xác định, xây dựng và bảo vệ quyền lợi chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội bình đẳng cho phụ nữ. Điều này bao gồm tìm cách thiết lập cơ hội bình đẳng cho phụ nữ trong giáo dục và việc làm. Người theo chủ nghĩa nữ giới là người vận động hoặc ủng hộ các quyền và bình đẳng của phụ nữ”.
Theo Kamla Bhasin, 2003: Nữ quyền là sự nhận thức về sự thống trị gia trưởng, sự bóc lột và áp bức ở các cấp độ vật chất và tư tưởng đối với lao động, sự sinh sản và tình dục của phụ nữ trong gia đình, ở nơi làm việc và trong xã hội nói chung, là hành động có ý thức của phụ nữ và nam giới làm thay đổi tình trạng đó. Theo Hoàng Bá Thịnh, 2008: Nữ quyền là quyền phụ nữ và hiểu đầy đủ thì đó là đáu tranh cho quyềm bình đẳng của phụ nữ. Với niềm tin dựa trên nguyên tắc cho rằng phụ nữ phải có các quyền và cơ may trong cuộc sống như nam giới về chính trị, kinh tế, luật pháp… Như vậy,thuật ngữ “Nữ quyền” có thể được hiểu qua những bình diện sau: Về phương diện lý luận: nữ quyền được xem như là một học thuyết đấu tranh cho sự bình đẳng của giới nữ. Về phương diện hoạt động thực tiễn, phong trào nữ quyền đóng vai trò quan trọng giành quyền cho phụ nữ trên các phương diện chính trị, kinh tế, bảo vệ các quyền của con người.
Về góc độ nghề nghiệp: nữ quyền đấu tranh hướng tới các mục tiêu bình đẳng Nam và Nữ (bình đẳng giới). Phong trào nữ quyền trong văn học Người đặt ra từ “chủ nghĩa nữ quyền” chính là Charles Fourier, một triết gia người Pháp chuyên về chủ nghĩa xã hội không tưởng. Lần đầu tiên thuật ngữ “nữ quyền” (feminism) hay “nhà hoạt động nữ quyền” (feminist) xuất hiện là ở Pháp và Hà Lan năm 1872, ở Vương quốc Anh trong những năm 1890, và Hoa Kỳ vào năm 1910. 6 Từ điển Oxford English Dictionary đưa từ “feminist” lần đầu vào năm 1894 và từ “feminism” vào năm 1985.
Năm 1852 là năm của sự xuất hiện đầu tiên của từ feminist – “người theo nữ quyền”. Nhiều phong trào nữ quyền xuất hiện để thực thi quyền của phụ nữ nên được coi là phong trào nữ quyền. Phong trào đấu tranh vì nữ giới thường liên quan đến các quyền lợi cơ bản, tối thiểu của người phụ nữ như: cơ thể toàn vẹn và tự chủ; quyền được giáo dục và làm việc; được trả lương như nhau; quyền sở hữu tài sản; tham gia vào các hợp đồng hợp pháp, tổ chức các cơ quan công quyền; quyền bầu cử; quyền tự do kết hôn, bình đẳng trong gia đình và tự do tôn giáo. Ngoài ra, chủ nghĩa nữ quyền còn là sự đấu tranh cho những quyền lợi thiết thực hàng ngày như quyền sinh đẻ và hạn chế sinh đẻ, quyền hưởng lợi từ chăm sóc y tế, quyền chống bạo lực, chống hãm hiếp phụ nữ và trẻ em.
Theo tác giả Trần Huyền Sâm, 2016 trong cuốn sách Nữ quyền luận ở Pháp và tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại thì “Chủ nghĩa nữ quyền là một phong trào hoạt động xã hội rộng lớn nhằm gắn vấn đề nữ tính với nhân quyền. Đó là cuộc hành trình “câm lặng và giông bão” trong lịch sử nhân loại, với mục đích đấu tranh cho một xã hội bình đẳng giới. Hoạt động đấu tranh vì quyền lợi của phụ nữ diễn ra mạnh mẽ nhất là ở Pháp, đặc biệt là vào thập niên 1960, 1970 của thế kỷ XX. Người có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất của phong trào nữ quyền chính là Simone de Beauvoir với tác phẩm Giới tính thứ hai.
Trước Simone de Beauvoir thì chủ nghĩa nữ quyền và phong trào nữ quyền đã có từ nhiều thế kỷ trước. Phong trào nữ quyền tập hợp được rất nhiều phụ nữ từ các nước như Anh, Pháp, Mỹ tham dự. Sau đó, phong trào này lan rộng ra cộng đồng người da đen và người Do Thái tham gia. Lịch sử của phong trào nữ quyền phương Tây hiện đại được phân chia thành ba “làn sóng” chủ yếu.
Và mỗi làn sóng đều có một ưu thế riêng trong việc giải quyết vấn đề giành lấy quyền bình đẳng giới cho phụ nữ. -Làn sóng nữ quyền thứ nhất xuất hiện từ khoảng thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX, được khởi đầu từ nước Anh sau đó lan rộng ra các quốc gia phương Tây. Đây là giai đoạn chủ yếu đòi quyền bình đẳng giới trên các phương diện như: chính trị, xã hội và hôn nhân gia đình. Nhà nữ quyền giai đoạn này có ảnh hưởng tích cực đến phong trào nữ quyền thời bấy giờ là Marie Wollstonerast với cuốn sách nổi tiếng “Bản chứng minh các quyền của phụ nữ” (A Vindication of the Right of Women, 1792).
Theo bà, phụ nữ phụ nữ không tự nhiên thấp kém hơn đàn ông, mà do thiếu sự giáo 7 dục. Bà lên tiếng đấu tranh cho sự bình đẳng giới trong xã hội. Người thứ hai có ảnh hưởng sâu rộng đến phong trào nữ quyền thời bấy giờ là Virginia Woolf với tác phẩm “Một căn phòng riêng” (A room of One’s Own, 1929) với tinh thần dung hòa cả hai giới với sự ưu tiên cho các nhà văn nữ. Quan niệm của Virginia Woolf trong tác phẩm: “Một người phụ nữ phải có tiền và một căn phòng của riêng mình nếu cô ta muốn viết văn.
Câu nói thể hiện tầm quan trong của nữ quyền. Người phụ nữ sẽ độc lập về vật chất, tài chính, tinh thần nếu có “tiền” và “một căn phòng riêng”. -Làn sóng thứ hai của chủ nghĩa nữ quyền bắt nguồn ở Tây Âu và Bắc Mỹ từ sau Chiến tranh thế giới lầ thứ hai và phát triển mạnh mẽ vào thập niên 60 của thế kỷ XX. Đại diện tiêu biểu cho giai đoạn này là Simone de Beauvoir, một nhà lý luận tiên phong về nữ quyền nổi tiếng ở Pháp.
Bà được cả thế giới biết đến với tác phẩm “Giới tính thứ hai” (The second sex, 1949). Câu nói bất hủ của bà: “Người ta sinh ra không phải đàn bà, mà trở thành đàn bà”. Bà phủ định chủ nghĩa bản chất cho rằng phụ nữ sinh ra đã là “phụ nữ” mà ngược lại, bản tính phụ nữ có sẵn chứ không phải được hình thành do quá trình giáo dục. Chủ nghĩa nữ quyền của Beauvoir xuất hiện thì người ta chỉ coi đây là một tiên đoán cho xã hội mới, giờ đây nó đã trở thành hiện thực mà theo như cách nói của Lyotard là xã hội “hậu hiện đại”.
- Làn sóng nữ quyền thứ ba của chủ nghĩa nữ quyền xuất hiện vào những năm 1980. Đại diện nổi bật cho làn sóng này phải kể đến Doris Lesing với tác phẩm “Cuốn sổ tay vàng” (The Golden Notebook, 1979). Tác phẩm là một cái nhìn đầy mới mẻ và đa chiều trên các phương diện: tình dục, làm mẹ và những góc nhìn về thế giới đàn ông. Ngoài ra, tác giả Antoinette Fouque cũng nổi lên với tác phẩm “Có hai giới tính: lý luận về khoa học và phụ nữ” (1985 – 1995) đề cập đến vai trò, vị trí của người phụ nữ trong xã hội.
Tác giả Mary Ellmann với bài luận “Nghĩ về phụ nữ” (Thinking about women) nghiên cứu hình tượng người phụ nữ trong tác phẩm của những nhà văn nam. Nhờ Giới thứ hai của Beauvoir, lĩnh vực sáng tác, nghiên cứu và phê bình nữ quyền ngày càng phát triển rộng rãi ở nhiều nước phương Tây, đặc biệt lý thuyết nữ quyền Anh – Mỹ bắt đầu phổ biến. Tiêu biểu như Một căn phòng riêng, Bà đồng ghi – nê của Virginia Woolf – nhà nữ quyền người Anh; Bí ẩn nữ tính của Betty Friendan, nhà nữ quyền người Mỹ… Trong văn học, văn học nữ quyền cũng xuất hiện với những 8 tác giả người Mỹ: Alice Walker, Toni Morrison, Grace Paley, Alison Lurie, Margaret Atwood… Hiện nay, nhiều công trình nghiên cứu về nữ quyền có chất lượng có thể kể đến là: Mary Eagleton với “Lý thuyết văn học nữ quyền” (Blackwell Publishing 1996), Toril Moi với “Chính kiến văn bản / giới tính (NXB Routledge 2002)… 1. Âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam và Nhật Bản – sự biểu hiện của tinh thần dân chủ 1.
Âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nam Ở Việt Nam, nghiên cứu nữ quyền cũng diễn ra khá sớm, nhất là từ những năm đầu thế kỷ XX. Người đặt nền móng đầu tiên cho sự khởi phát này là nhà phê bình lý luận văn học Phan Khôi (1887 – 1959). Ông ủng hộ tinh thần giải phóng phụ nữ thông qua một loạt bài như Về văn học của phụ nữ Việt Nam (Phụ nữ Tân Văn số 1, ngày 2/5/1929), Văn học với nữ tánh (Phụ nữ Tân Văn số 2, 9/5/1929), Văn học của phụ nữ nước Tàu về thời kỳ toàn thạnh (Phụ nữ Tân Văn số 3, 16/5/1929). Năm 1907 trên Đăng cổ tùng báo đã có mục “Nhời đàn bà” xuất hiện như một diễn đàn của phụ nữ.
Năm 1916, trên Trung Bắc Tân Văn trong mục “Nhời đàn bà”, Nguyễn Văn Vĩnh cho rằng việc coi thường phụ nữ của người đàn ông Việt Nam là tự làm thiệt mình vì “người đàn bà trời sinh ra để làm bạn, để gánh vác một công việc với người đàn ông chứ không phải để làm thân trâu ngựa”. Cũng trong năm 1916, Phạm Quỳnh cũng đánh giá cao người phụ nữ trong gia đình với bài Sự giáo dục đàn bà con gái trên Đông Dương tạp chí. Ông cho rằng phụ nữ bị đánh giá thấp “suy cho cùng cũng chỉ vì không có học thức mà thôi”. Phan Bội Châu với Vấn đề phụ nữ được in trong Nhà xuất bản Duy Tân thư xã, Huế, năm 1929 đã chỉ ra những bất bình đẳng của phụ nữ suy cho cùng là do nguyên nhân lịch sử - xã hội; Trần Thiện Ty và Bùi Thế Phúc với khuynh hướng phê bình nữ quyền “Âu hóa” trong Vấn đề phụ nữ ở Việt Nam xuất bản năm 1932; Vấn đề phụ nữ của Nguyễn Thị Kim Anh (Nguyễn Thị Minh Khai) do Nhà xuất bản Thân dân ấn hành năm 1938; Bộ sách Đời chị em và Chị em gái làm gì của Cựu Kim Sơn và Văn Huệ xuất bản bởi nhà in Dân chúng năm 1938.
Văn học Việt Nam, qua các giai đoạn từ văn học viết cho đến văn học truyền miệng, và thậm chí văn học dân gian vẫn xác nhận vai trò kẻ mạnh của đàn ông so với 9 phụ nữ.