CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tình hình nghiên cứu và tính mới của đề tài 1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước có liên quan đến đề tài Ở Việt Nam, khi nhắc đến các nghiên cứu về lý thuyết ngôn ngữ học, so sánh đối chiếu ngôn ngữ đã có các tác giả tiêu biểu như Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thiện Giáp, Hoàng Văn Hành, Lê Quang Thiêm… Trong nước đã có nhiều nghiên cứu về so sánh đối chiếu từ vựng như Trần Thị Kim Tuyến với luận văn thạc sĩ “Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ màu sắc trong tiếng Pháp và tiếng Việt”, Nguyễn Đình Bá với luận văn thạc sĩ “Đối chiếu đặc điểm ngữ nghĩa của các từ chỉ vị trí trong không gian tiếng Trung và tiếng Việt”, hay Lê Thị Hải Chi với luận án tiến sĩ “Đối chiếu ngữ nghĩa của các giới từ không gian out, in, up, down trong Tiếng Anh với “ra, vào, lên, xuống” trong Tiếng Việt theo cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận”. Các nghiên cứu đều đi vào miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ theo các thành phần ý nghĩa của từ, nghiên cứu từ nghĩa gốc đến nghĩa chuyển trong tiếng Việt khi so sánh đối chiếu với ngôn ngữ khác. Nghiên cứu cũng nêu một số đặc trưng văn hóa của dân tộc thể hiện qua đặc điểm ngữ nghĩa của nhóm từ đó, khả năng ứng dụng thực tiễn giảng dạy, biên soạn từ điển, giáo trình. Ở bình diện thơ lục bát, thơ của Nguyễn Du, hay các sáng tác về chủ đề về thiên nhiên, có những bài báo, luận văn luận án liên quan như: luận văn “Thiên nhiên trong thơ chữ hán Nguyễn Du” (Trần Thu Trang), đã đề cập đến thiên nhiên trong thơ của Nguyễn Du và sự kết nối giữa thiên nhiên với tâm trạng.
Thông qua việc lựa chọn, sử dụng từ ngữ tài tình hình ảnh thiên nhiên còn mang ý nghĩa triết lý cuộc đời, mang triết lí Phật giáo. Trần Thị Thuý: “Thiên nhiên trong sáng tác của các nữ tác giả Việt Nam thời trung đại - nhìn từ phê bình sinh thái” đã chỉ ra những đặc điểm riêng của nhóm tác giả nữ trong cách cảm nhận và hình dung môi trường thiên nhiên, thiên nhiên trong văn chương, phản chiếu quan niệm về mối quan hê ̣con người [giới nữ] với thế giới tự nhiên, tác động giữa con người với tự nhiên và ngược lại trong thời kì trung đại. 4 Đặc biệt, có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về “Truyện Kiều” của Nguyễn Du như: “Truyện Kiều của Nguyễn Du dưới góc nhìn tương tác thể loại” (Nguyễn Thị Ngọc Hà), “Hội thoại trong Truyện Kiều của Nguyễn Du” (Nguyễn Thị Thanh Thuỷ). Tạp chí Sông Hương số TCSH383/01-2021 (tạp chí sáng tác phê bình nghiên cứu văn học nghệ thật - văn hoá), Nguyễn Quang Huy đã đi vào phân tích hình ảnh “trăng” trong Truyện Kiều.
Tác giả đã lí giải nghĩa của các câu thơ có hình ảnh “trăng”. Hơn nữa, tác giả đã chỉ ra rằng xuất phát từ sự tri giác đặc thù của con người trung đại về thế giới thiên nhiên, và từ cái nhìn văn hoá – tâm lý, hình ảnh “trăng” xuất hiện nhiều là phóng chiếu tâm thức con người, phóng chiếu các trạng thái bản ngã của chủ thể. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 2 (2014) 7-13, Nguyễn Thị Hương Giang, đã có nghiên cứu về đối chiếu ẩn dụ “风”trong tiếng Hán và “gió” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận. Theo tác giả, gió từ một hiện tượng thiên nhiên quen thuộc trong đời sống con người qua góc độ ngôn ngữ học tri nhận, nghiên cứu nhận thấy ý niệm về gió ở hai dân tộc về cơ bản là giống nhau, tuy nhiên những kiến thức kinh nghiệm, ảnh hướng của hiện tượng tự nhiên này đối với mỗi dân tộc là khác nhau, dẫn đến những tri nhận về các lĩnh vực hay khái niệm trừu tượng khác thông qua ý niệm “gió” là khác nhau.
Những bài viết chỉ dừng lại ở một hiện tượng duy nhất là “gió” chưa xét góc độ rộng hơn là các hiện tượng tự nhiên khác trong cuộc sống. Về phía Nhật Bản, cũng đã có nhiều nhà ngôn ngữ tham gia nghiên cứu về thơ haiku của Basho trên nhiều phương diện: nội dung, hình ảnh biểu trưng, thi pháp, trong số đó có: Thơ Haiku Basho - Tác phẩm và nghiên cứu (Phùng Hoài Ngọc dịch), 井尻 香代子(Ijiri Kayoko) với「俳句の普及による価値観 の変化」, 野村 亞住 (Nomura Azumi) với「芭蕉連句の「季の句」- 季語 の推移と表現の変化」. Trong cuốn「俳句と日本的感性」(2010) có viết「日本の詩歌は基本 的に‘時間の流れのなかの刹那の光を捉える’ことに関心が持たれてい ることを述べた。はかなく散る桜、枯れてしまう草花、弱ってゆく虫の 5 音などが好まれるのもそのためである。生滅する存在としての自然と人 間との共感が基本になっており、「日常」的に季節の移りを意識してい る。」(Tạm dịch: Thơ ca Nhật Bản về cơ bản quan tâm đến việc “nắm bắt khoảnh khắc trong dòng chảy của thời gian”. Lý do tại sao người Nhật lại thích những bông hoa anh đào rơi, hay những bông hoa sắp tàn và tiếng côn trùng kêu yếu ớt là dựa trên sự giao cảm giữa thiên nhiên và con người.
Như trong mối quan hệ tồn tại giữa sự sống và cái chết, có tốn tại ý thức về sự thay đổi của các mùa dựa trên cơ sở “những điều quen thuộc trong cuộc sống hàng ngày). Có thể thấy rằng thơ haiku lấy chủ đề gần gũi với đời sống con người và thể hiện cảm tính của dân tộc Nhật trong các bài thơ đó. Nhật Chiêu trong cuốn Văn học Nhật Bản, chương 5: Basho và con đường sâu thẳm đã đi vào nghiên cứu phân tích đời thơ của Basho qua năm chặng đường để có thể đánh giá sự trưởng thành trong sự nghiệp thơ ca. Ông đã nêu ra những cảm thức nghệ thuật có trong thơ haiku là Sabi (tịch), Wabi (đà), Kuruma (khinh) sẽ được đưa vào khi muốn nhắc đến yếu tố tâm linh của thơ haiku.2 Tính mới của đề tài Như trên đã trình bày, trong giới hạn tìm hiểu của bản thân đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về thơ lục bát, “Truyện Kiều” của Nguyễn Du, về thơ haiku của Basho trên nhiều phương diện khác nhau, kể cả các luận văn, luận án.
Tuy nhiên, nhìn chung thì chưa có một tài liệu nào nghiên cứu toàn diện, đặc biệt là vấn đề đi vào phân tích đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ hiện tượng thiên nhiên mà phổ biến chỉ dừng lại ở một hiện tượng thiên nhiên. Đó cũng là động lực thúc đẩy tiến hành nghiên cứu này, đào sâu tìm hiểu dưới góc độ ngôn ngữ học, đặc biệt giới hạn ở các từ chỉ hiện tượng thiên nhiên trong thơ lục bát và thơ haiku. Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước là cơ sở, tài liệu quý báu, gợi mở cho đề tài. Cụ thể, đề tài sẽ tập trung nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa của từ hiện tượng thiên nhiên giữa hai ngôn ngữ dưới góc độ ngôn ngữ học nhằm tìm ra những nét tương đồng và dị biệt của chúng, đồng thời chỉ ra sự khác biệt trong tư duy, văn hoá của hai dân tộc.
6 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần hỗ trợ cho việc học tập, nghiên cứu ngôn ngữ, trong đó có tiếng Việt và tiếng Nhật 1.2 Từ Theo Nguyễn Thiện Giáp: “Từ là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ độc lập về ý nghĩa và hình thức”. “ Từ của Tiếng Việt là một chỉnh thể nhỏ nhất có ba nghĩa để tạo ra câu nói; nó có hình thức, có một âm tiết, một chữ viết rời”.Golovin viết trong cuốn sách “Dẫn luận ngôn ngữ học” của ông, “Từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để xây dựng nên câu”.Bloomfield, từ là một “hình thái tự do nhỏ nhất”. Có nghĩa rằng từ là một hình thái nhỏ nhất có thể xuất hiện độc lập được. Theo quan niệm của Trương Văn Chính, Nguyễn Hiến Lê: “Từ là âm có nghĩa, dùng trong ngôn ngữ để diễn đạt một ý đơn giản nhất, nghĩa là ý không thể phân tích ra được”.
Qua các định nghĩa nêu trên, chúng tôi nhận thấy có thể khái quát về khái niệm từ như sau: Từ là đơn vị nhỏ nhất trong câu có nghĩa, có kết cấu vỏ ngữ âm bền vững, hoàn chỉnh, có chức năng gọi tên, được vận dụng độc lập, tái hiện tự do trong lời nói để tạo câu.3 Thành phần ý nghĩa của từ Từ có liên hệ với nhiều nhân tố, nhiều hiện tượng. Bởi thế nghĩa của từ cũng không phải chỉ có một thành phần, một kiểu loại. Tuỳ theo các chức năng mà từ chuyên đảm nhiệm, trong ý nghĩa của từ có những thành phần ý nghĩa khác nhau. Theo Đỗ Hữu Châu từ có những thành phần ý nghĩa sau đây: 1.1 Nghĩa biểu vật Nghĩa biểu vật: Là liên hệ giữa từ với sự vật (hoặc hiện tượng, thuộc tính, hành động,…) mà nó chỉ ra.
Bản thân sự vật, hiện tượng, thuộc tính, hành động,… đó, người ta gọi là biểu vật hay cái biểu vật. Biểu vật có thể hiện thực hoặc phi hiện thực, hữu hình hay vô hình, có bản chất vật chất hoặc phi vật chất.2 Nghĩa biểu niệm Nghĩa biểu niệm: Là liên hệ giữa từ với ý (hoặc ý nghĩa, ý niệm). Cái ý đó người ta gọi là cái biểu niệm hoặc biểu niệm (sự phản ánh các thuộc tính của biểu vật vào trong ý thức của con người).3 Nghĩa ngữ dụng Nghĩa biểu thái: Còn được gọi là nghĩa ngữ dụng. Là liên hệ giữa từ với thái độ chủ quan, cảm xúc của người nói.
Ba thành phần ý nghĩa trên được gọi chung là ý nghĩa từ vựng. Ý nghĩa từ vựng thường đối lập với thành phần nghĩa thứ tư là: nghĩa cấu trúc.4 Nghĩa cấu trúc Nghĩa cấu trúc là mối quan hệ giữa từ với các từ khác trong hệ thống từ vựng.5 Sự phản ánh sự vật - biểu vật Trọng tâm chú ý phân tích, miêu tả của từ vựng - ngữ nghĩa học là nghĩa biểu niệm chứ không phải là các thành phần khác. Vì vậy, ở đây khi không thật bắt buộc phải xác định rành mạch về mặt thuật ngữ, thì chúng ta sẽ nói đến nghĩa với nội dung được hiểu là nghĩa biểu niệm cho giản tiện.4 Hiện tượng nhiều nghĩa của từ Theo sách Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt chương VII, có viết về hiện tượng nhiều nghĩa của từ có thể xảy ra cả với ý nghĩa biểu vật, cả với ý nghĩa biểu niệm, cả với ý nghĩa biểu thái.1 Hiện tượng nhiều nghĩa biểu vật Có những nghĩa biểu vật đã cố định và có những nghĩa biểu vật xuất hiện trong ngôn bản không cố định. Căn cứ để tách các nghĩa biểu vật là phạm vi sự vật, hiện tượng khác nhau, ứng với từ, nhưng thực tế, việc xác định giữa các nghĩa biểu vật cũng không dễ dàng.2 Hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm Ý nghĩa từ loại khác nhau và đi kèm với chúng là các đặc điểm ngữ pháp khác nhau.