Chương 1 NGUYỄN QUANG BÍCH VÀ NGƯ PHONG THI TẬP 1. Nguyễn Quang Bích, nhà Nho chiến sĩ – thi sĩ 1. Con đường trở thành nhà Nho chiến sĩ Từ nửa cuối thế kỷ XIX, trước sức tấn công ồ ạt của quân Pháp, giai cấp phong kiến cầm quyền đã tỏ ra hèn nhát và bất lực, trong nội bộ đã sớm có sự phân hóa thành hai phái chủ chiến và chủ hòa. Ngay từ đầu, đại bộ phận hàng ngũ phong kiến cầm quyền đã mang nặng tư tưởng thất bại và có tư tưởng sợ giặc.
Trong thời kỳ đầu, vì quyền lợi giai cấp bị trực tiếp đụng chạm nên họ có phản ứng lại. Nhưng vì bất đắc dĩ phải chống cự lại quân thù nên sức chống cự rất hạn chế, để rồi đầu hàng từng bước trước kẻ thù, cuối cùng dâng toàn vẹn lãnh thổ cho chúng. Trong lúc đó, nhân dân ta với truyền thống bất khuất của dân tộc, cương quyết chống lại sự đầu hàng phản bội của triều đình, đứng dậy kháng chiến anh dũng và bền bỉ. Sau 5 tháng tấn công ở bán đảo Sơn Trà, thực dân Pháp chuyển hướng tấn công vào phía Nam nơi mà theo tính toán của họ, do xa xôi cách trở với triều đình, lại ở chỗ đất rộng người thưa, có thể dễ dàng chiếm giữ.
Những toan tính xảo quyệt của giặc Pháp xem ra không phải không có cơ sở. Khác với tình hình chiến sự tại mặt trận miền Trung, ở Nam Kì, quân Pháp không gặp nhiều khó khăn trong việc phá vỡ thế trận phòng thủ của triều đình. Tuy nhiên, có một điều chúng không thể ngờ tới là sự phản kháng mãnh liệt của người dân địa phương. Trong khi các đồn lũy triều đình nhanh chóng bị tan vỡ trước sức tấn công của đội quân xâm lược thì nhân dân lục tỉnh, dưới sự chỉ huy của những thủ lĩnh danh tiếng như Trương Định, Võ Duy Dương, Nguyễn Thành Ý, Phan Trung, Trần Xuân Hòa, Đốc binh Kiều.
vẫn kiên cường tiếp tục cuộc kháng chiến. Cuộc chiến tranh du kích do những người dân Nam kì tiến hành liên tục trong một thời gian dài đã gây nên bao nỗi kinh hoàng cho đội quân viễn chinh. Trong bối cảnh này, nhà cầm quyền Việt Nam e 13 đã đưa ra những quyết sách rất lạ lùng. Thay vì củng cố lực lượng, tổ chức dân binh thừa cơ giặc lúng túng mà dấn tới thì vua tôi lại chủ trương hòa nghị với giặc.
Đây là lúc triều Nguyễn bộc lộ sự yếu kém toàn diện của mình trong quản lý và điều hành đất nước, trong những quyết sách quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia. Những kinh nghiệm triều chính cổ truyền đã không còn giúp ích gì cho vua tôi lúc này. Họ cũng không còn đủ tỉnh táo để nắm bắt tình hình, không còn chút niềm tin nào vào khả năng của chính mình. Trước những ý kiến trái ngược nhau của quần thần, một ông vua vốn thông minh, nhạy cảm như Tự Đức cũng trở nên rối trí.
Triều đình đã không nhận thấy cái hào khí dân tộc vốn tiềm tàng qua nghìn đời nay vẫn đang trào dâng mãnh liệt trong mỗi con người Việt Nam. Vua tôi chỉ còn biết thủ hòa và trông chờ sự cứu giúp từ bên ngoài, cụ thể là mượn uy vũ của thiên triều Mãn Thanh để chống lại “rợ Tây”. Điều trớ trêu là ở chỗ nhà Mãn Thanh - nơi trông cậy cuối cùng của Tự Đức - cũng chỉ là một miếng mồi đang bị phương Tây xâu xé. Trong cơn tuyệt vọng vì không còn chỗ trông cậy từ bên ngoài, triều đình quay ra thỏa hiệp với giặc.
Các hiệp ước và hàng ước (các năm 1862, 1864, 1867) liên tiếp được kí kết, thừa nhận quyền cai trị của Pháp tại Nam kì. Trên thực tế, trước sức ép và uy lực của kẻ thù, triều đình nhà Nguyễn phân rã và tê liệt từ rất sớm. Với thái độ lúng túng và thiếu quyết đoán, thậm chí là nhu nhược của người cầm đầu, bộ máy chính quyền đã hoàn toàn rối loạn. Trước hoàn cảnh đó, hình mẫu ông vua không còn được trông chờ để cứu nhân dân và đất nước.
Tầng lớp nhà Nho vốn thấm nhuần ý thức hệ Nho giáo và tư tưởng quân chủ phong kiến đã thể hiện lòng yêu nước, phê phán những kẻ hại dân, hại nước. Họ đã trăn trở trước thời cuộc về con đường cứu nước chống Pháp, đề cao tinh thần, nghĩa khí của những bậc anh hùng và khí tiết của nhà Nho. Tấm lòng yêu nước, căm thù giặc của các nhà Nho đã cảm hóa được những người đương thời cùng họ tham gia chiến đấu đánh giặc. Nhân dân đã nổi dậy chống Pháp dưới sự lãnh đạo của các nhà Nho và sĩ phu e 14 yêu nước.
Phong trào yêu nước chống Pháp bùng nổ, nhiều cuộc khởi nghĩa diễn ra ở khắp nơi như: Tây Bắc, Hưng Yên, Quảng Bình, Bình Định… tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa Đinh Công Tráng, Nguyễn Quang Bích, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Định, Nguyễn Trung Trực… Phong trào Cần Vương lan khắp nước kéo dài đến cuối thế kỷ XIX. Cuối cùng bị thất bại nhưng nó đã thể hiện được tinh thần yêu nước, ý thức tự tôn dân tộc của các sĩ phu. Nhiều tấm gương chiến đấu và hy sinh anh dũng vì tổ quốc như Phan Đình Phùng đã khóc khi nghe tin triều đình cầu hòa với giặc: Gạt nước mắt nhìn kĩ về hướng kinh thành, Đau lòng vì vua vì nước, nước mắt chan chứa. Nguyễn Trung Trực với câu nói đầy cảm khái trước lúc bị giặc Pháp hành hình: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”, tổng đốc Nguyễn Tri Phương bị thương nặng vẫn kiên cường chiến đấu cho đến lúc chết.
Năm 1888, khi vua Hàm Nghi bị bắt, sau đó bị đày biệt xứ, các chính quyền thân Pháp (Đồng Khánh, Khải Định, Bảo Đại) liên tục được dựng lên thì chút hào khí Cần Vương cuối cùng cũng tắt hẳn. Thế cuộc càng lúc càng trở nên ảm đạm, thê lương nhưng đây được coi là thời khắc bi tráng nhất của lịch sử dân tộc. Có thể nói, lịch sử Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX là lịch sử của phong trào đấu tranh chống xâm lược, vì độc lập dân tộc - một cuộc kháng chiến lâu dài và khốc liệt. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình vận động cũng như đặc điểm, tính chất của văn học nước nhà.
Văn học giai đọan này phát triển trong sự gắn bó chặt chẽ với các diễn biến của lịch sử, chịu sự chi phối sâu sắc của đời sống chính trị xã hội. Đây là lúc mà tính thời sự, thế sự trong văn học trở thành một đặc điểm vượt trội. Nó được thể hiện ở nhiều khía cạnh: những nội dung chủ yếu trong tác phẩm; mục tiêu, đối tượng hướng tới của văn học; vị thế của văn học trong sinh họat cộng đồng. Đời sống văn học giai đọan này trở nên sôi động khác thường, những biến đổi sâu e 15 sắc diễn ra theo nhịp điệu ngày càng nhanh.
Vấn đề nóng bỏng nhất, cấp bách nhất lúc này của cả dân tộc chính là sự tồn vong của giang sơn xã tắc. Đây vốn là chuyện quốc gia đại sự, chuyện của triều đình nhưng vào thời điểm này, nó lại nhanh chóng trở thành vấn đề chủ yếu, thường trực của văn học. Các nhà Nho yêu nước đã kế thừa, phát huy chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, đó cũng là nội dung chủ đạo trong tư tưởng, tình cảm, chi phối mọi hoạt động vì nghĩa của các nhà Nho trong thời kỳ này. Dấu ấn thời cuộc đã in đậm vào văn chương, chi phối sâu sắc đến đặc điểm, tính chất của văn chương.
Nó được biểu lộ qua những dự cảm, những thấp thỏm âu lo sự thế, nỗi day dứt về vận nước của các nhà Nho tâm huyết, những chuyện gay cấn, gai góc nơi chính trường; xung đột xung quanh chuyện chiến hay hòa, duy tân hay thủ cựu. Đây là chuyện của đời sống thực tế mà cũng là chuyện văn chương, chuyện của văn nhân Nho sĩ. Và cũng thật tự nhiên, quá trình vận động đã tạo ra những xu hướng, những mạch nguồn văn chương rất khác nhau. Lịch sử văn học giai đọan cuối thế kỷ XIX diễn ra hết sức sinh động, đa dạng và phong phú.
Ngoài yếu tố thời đại lịch sử, không thể không nhắc đến vấn đề ý thức hệ chi phối đồng thời góp phần hình thành nên con người nhà Nho – chiến sĩ Nguyễn Quang Bích. Đó là vấn đề Nho giáo. Thế kỷ XIX, Nho giáo tiếp tục được coi là quốc giáo, chi phối mạnh mẽ tư tưởng của hầu hết các tác giả nhà Nho Việt Nam. Nói tới tác giả nhà Nho là khẳng định mối quan hệ giữa Nho giáo và văn học.
Nho giáo coi văn học là sự nghiệp lớn bên cạnh chính trị và phục vụ cho chính trị. Theo Trần Đình Hượu: “Nho giáo ảnh hưởng trực tiếp đến văn học qua thế giới quan của người viết. Cách Nho giáo hiểu quan hệ giữa thiên đạo và nhân sự, sự tồn tại của trời, sự chi phối của Đạo, Lý của Mệnh. Cách Nho giáo hình dung thực tế, vạn sự, vạn vật và lẽ biến dịch; cách Nho giáo hiểu cổ kim, cách Nho giáo hình dung xã hội, sự quan trọng đặc biệt e 16 của cương thường, đòi hỏi con người có trách nhiệm, có tình nghĩa, cảm xúc, cách suy nghĩ làm cho con người quan tâm hàng đầu đến đạo đức, lo lắng cho thế đạo, nhân tâm, băn khoăn nhiều về lẽ xuất xử” [20, tr.
Nho giáo đề cao sự học hành, coi đó là một sứ mệnh lớn. Trần Ngọc Vương nói đến quan niệm “văn” trong Nho giáo như sau: “Văn cùng loại với đức, cũng có nghĩa là đạo, chính xác hơn là sự lưu hành của “đạo”. Với ý nghĩa đó “văn” mang một ý nghĩa linh thiêng, cao cả bởi đó là lời của Thánh nhân, có liên hệ đến Thiên đạo, Thiên lý. Vì quan niệm như thế, nên các nhà Nho đời sau mới coi tài năng văn học nghệ thuật là cái thiên phú, coi văn học không phải là cái gì nói cuộc sống tầm thường” [60, tr.
Văn học trung đại không chỉ là rung động cảm xúc, tác động tới tình cảm con người mà còn có sức mạnh truyền đạo cho tư tưởng Nho giáo, là phương diện để giáo hóa con người. Cho nên văn phải phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức và là thước đo đạo đức, phải ca ngợi nền chính trị thái bình và thể hiện đạo lý cao đẹp. Nhà Nho chịu sự chi phối của hệ tư tưởng Nho giáo, cho nên, quan niệm văn chương của họ cũng chịu sự chi phối bởi những quan niệm, nguyên tắc của mỹ học Nho gia.