CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT TÙ CÓ THỜI HẠN ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Khái niệm, mục đích, ý nghĩa của hình phạt tù có thời hạn người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm về hình phạt tù có thời hạn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội Trước khi tìm hiểu khái niệm hình phạt tù có thời hạn, chúng tôi tìm hiểu khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội. Để hiểu rõ hơn khái niệm này, ta đi từ khái niệm chung về người chưa thành niên.
Một số văn bản quy phạm pháp luật của nước ta cũng đưa ra khái niệm người chưa thành niên. Có thể đề cập đến như: “Người chưa thành niên là người chưa đủ mười tám tuổi” (Khoản 1, Điều 21, Bộ luật dân sự 2015). [29] Theo Từ điển Tiếng Việt năm 1994 do GS. Hoàng Phê chủ biên, người chưa thành niên hay còn gọi là vị thành niên là “người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ”.[26] Trong khái niệm người chưa thành niên còn bao gồm khái niệm trẻ em.
Công ước Liên Hợp quốc về Quyền trẻ em nêu rõ: “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có qui định tuổi thành niên sớm hơn [24]. Như vậy, ở đây, khái niệm trẻ em và khái niệm chưa thành niên là đồng nhất đều là những người dưới 18 tuổi. Điều 1 của Luật trẻ em năm 2016 (sửa đổi bổ sung năm 2018) qui định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [34]. Như vậy, theo qui định của pháp luật Việt Nam thì khái niệm trẻ em khác với Công ước Liên Hợp quốc về độ tuổi.
Trong BLHS năm 2015 không đưa ra khái niệm trẻ em hay người chưa 8 thành niên, tuy nhiên, đưa ra quy định về tuổi chịu TNHS đối với người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấp nhất là từ 14 tuổi khi phạm tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều tại khoản 2, Điều 12, BLHS 2015. Như vậy, từ những qui định trên, chúng ta có thể rút ra khái niệm khái quát là người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi; họ chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự nếu từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và phạm một tội được qui định trong BLHS. Ở đây chúng ta cũng cần phân biệt người dưới 18 tuổi phạm tội với người dưới 18 tuổi vi phạm pháp luật khác. Như Luật xử lý vi phạm hành chính qui định tuổi bị xử lý vi phạm cho tất cả các hành vi vi phạm hành chính là đủ 16 tuổi trở lên, và từ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu hành vi vi phạm với lỗi cố ý [35].
Như vậy từ các qui định trên chúng ta có thể hiểu là người dưới 18 tuổi phạm pháp là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi có hành vi vi phạm pháp luật. Theo nghĩa rộng vi phạm pháp luật là vi phạm các văn bản: Hiến pháp, Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Uỷ Ban thường vụ Quốc hội, Nghị định, Thông tư. song chủ yếu là vi phạm Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật hình sự. Người dưới 18 tuổi phạm tội và người dưới 18 tuổi phạm pháp là hai khái niệm khác nhau về độ tuổi, phạm vi, tính chất vi phạm.
Người dưới 18 tuổi phạm tội là người dưới 18 tuổi phạm pháp, nhưng không phải tất cả người dưới 18 tuổi phạm pháp đều là người phạm tội. Việc nắm vững hai khái niệm trên có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm do người dưới 18 tuổi gây ra. Căn cứ những khái niệm được đề cập ở những văn bản luật khác nhau nêu trên, ta có thể hiểu khái quát về người dưới 18 tuổi phạm tội, đó là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện tội 9 phạm. Trong độ tuổi này lại chia thành hai mức: - Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; - Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Việc phân chia người chưa thành niên phạm tội theo từng mức tuổi như trên là rất cần thiết và mang tính khoa học, giúp cho việc nghiên cứu và áp dụng pháp luật trong thực tiễn được chính xác và hiệu quả hơn, nhất là trong xác định TNHS, nguyên tắc xử lý và áp dụng biện pháp phòng ngừa phù hợp. Tóm lại, qua những phân tích từ nhiều nguồn, nhiều quan điểm về khái niệm trẻ em, người chưa thành niên, ta có thể định nghĩa: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi, thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm”. Tuy nhiên, không phải người dưới 18 tuổi nào phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, hệ thống hình phạt là tổng thể các loại hình phạt do Nhà Nước quy dịnh trong luật hình sự, có sự liên kết chăt chẽ với nhau theo một trình tự nhất định do tính chất nghiêm khắc của từng loại hình phạt quy định.
Trong đó, hình phạt bao gồm nhiều loại hình, được áp dụng với các loại đối tượng khác nhau tương xứng với hành vi nguy hiểm cho xã hội mà họ thực hiện. Trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta, tù có thời hạn là hình phạt điển hình nhất và được quy định rất sớm trong những văn bản pháp luật của Nhà nước ta. Ba ngày sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Nhà nuớc ta đã ban hành nhiều sắc lệnh quan trọng trong đó có Sắc lệnh số 06 ngày 05/9/1945: “Cấm nhân dân Việt Nam đăng lính, bán thực phẩm, dẫn đường, làm tay sai cho quân đội Pháp. Kẻ nào trái lệnh đó sẽ bị Tòa quân sự nghiêm trị”[12], tiếp nữa là Sắc lệnh số 68 ngày 30/11/1945 “Ấn định thể lệ trưng dụng, trưng thu và trưng tập tài sản”, quy định thời hạn tù là từ sáu ngày đến ba tháng [14]; Sắc lệnh số 157 ngày 16/8/1946 “Bắt buộc các thứ 10 thuốc chế theo cách bào chế Thái Tây đều phải dán nhãn hiệu”,vi phạm sẽ phạt 1 vạn đồng bạc, tái phạm sẽ phạt tù từ 3 ngày đến 10 ngày.[15] Từ những năm 1950 về sau này, các văn bản pháp lý hình sự của nước ta đã thống nhất quy định thời hạn tù tối thiểu là 3 tháng còn thời hạn tù tối đa là 20 năm, được quy định lần đầu tại Sắc lệnh số 223 ngày 17/11/1946 trừng trị các tội về hối lộ, pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ngày 30/10/1967 trong đó nêu rõ hình phạt chính, hình phạt phụ có thể áp dụng.
Theo Điều 33 BLHS 1999 tù có thời hạn là buộc người bị kết án phải chấp hành hình phạt tại các trại giam trong một thời gian nhất định [22], tức là bị cách ly khỏi môi trường cộng đồng xã hội trong một thời gian nhất định để chấp hành quyết định của Toà án, để chịu sự giáo dục và cải tạo của cơ quan có thẩm quyền. Tù có thời hạn là hình phạt nghiêm khắc trong hệ thống các hình phạt được quy định trong BLHS. Các Mác đã viết: “Dưới con mắt của kẻ phạm tội, sự trừng phạt phải là kết quả tất yếu của hành vi của chính người đó, do đó phải là hành vi của chính người đó”[7, tr. Do đó, một người chỉ phải chịu hình phạt khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và hành vi đó được coi là tội phạm, quy định trong BLHS 2015.
Vì thế, chỉ người nào thực hiện hành vi phạm tội mới phải chịu hình phạt. Khi bị tù có thời hạn, người bị kết án bị tước quyền tự do, bị cách ly khỏi xã hội, họ phải lao động cải tạo trong các cơ sở giam giữ dưới sự quản lý và giám sát của lực lượng cảnh sát. Luật thi hành án hình sự năm 2019 quy định cụ thể về việc chấp hành án phạt tù tại cơ sở giam giữ với những quy định rõ ràng, cụ thể. Theo quy định tại Điều 33 BLHS 2015 thì tù có thời hạn đối với người phạm một tội có mức tối thiểu là ba tháng, mức tối đa là 20 năm [22].
Đối với những trường hợp phạm nhiều tội, việc tổng hợp hình phạt được thực hiện, cộng dồn những đảm bảo không quá thời hạn 30 năm. Về cơ bản, những quy 11 định này trong BLHS 2015 không có gì thay đổi so với BLHS năm 1999. Mức tối thiểu và mức tối đa đối với hình phạt tù có thời hạn được quy định trong các điều luật và trong từng khung hình phạt cụ thể không hoàn toàn giống với mức tối thiểu và mức tối đa được quy định cho loại hình phạt này mà tùy thuộc vào từng tội phạm, từng trường hợp phạm tội cụ thể mà quy định mức tối đa và tối thiểu cho phù hợp. Người bị kết án bị áp dụng hình phạt tù có thời hạn nếu trước đó họ đã bị tạm giữ hoặc tạm giam thì thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ một ngày tạm giữ bằng một ngày tù [22, Điều 38].
Đáng lưu ý, BLHS 2015 quy định thêm nội dung: “Không áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng do vô ý và có nơi cư trú rõ ràng” [22]. Đây là một trong những nội dung nhằm hạn chế hình phạt tù có thời hạn, một lần nữa xác định rõ hơn nguyên tắc nhân đạo và tính hướng thiện trong BLHS năm 2015. Thực tiễn thi hành án tù có thời hạn cho thấy việc tước bỏ hoặc hạn chế tự do đối với người bị kết án đã làm cho việc thực hiện các chức năng xã hội bình thường của một con người bị ảnh hưởng, thay đổi, các quan hệ xã hội cũng như những nhu cầu về sinh hoạt, thói quen. bị hạn chế.
Và nó là một trong những tác nhân gây trở ngại cho mỗi cá nhân khi họ tái hòa nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án. Do đó, về mặt lý luận, pháp luật hình sự nước ta đã chú trọng xây dựng nguyên tắc nhân đạo, khoan hồng; xác định nếu trong những trường hợp cụ thể, khi mà mục đích của hình phạt vẫn đạt được mà không cần phải cách ly người thực hiện hành vi phạm tội ra khỏi môi trường sống bình thường của họ thì hướng đến áp dụng các hình phạt không phải hình phạt tù.