CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI 1. Lý luận về người dưới 18 tuổi phạm tội 1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội Độ tuổi là một trong những yếu tố quan trọng để xác định năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của một cá nhân khi tham gia vào các quan hệ pháp luật. Xuất phát từ điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, quan điểm tôn giáo, đạo đức, truyền thống… khác nhau nên các quốc gia trên thế giới quy định độ tuổi một cá nhân có đầy đủ năng lực nhận thức, điều khiển hành vi cũng khác nhau.
Ở Việt Nam, một cá nhân được xem là có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi khi đạt độ tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên [39]. Pháp luật Việt Nam hiện nay sử dụng nhiều thuật ngữ như “người chưa thành niên”, “trẻ em”…để chỉ người dưới 18 tuổi và quy định đây là chủ thể của nhiều loại quan hệ pháp luật. Mặc dù về mặt pháp lý còn tồn tại nhiều thuật ngữ liên quan đến người dưới 18 tuổi tương ứng với các ngành luật khác nhau nhưng pháp luật Việt Nam thống nhất xác định người chưa thành niên là người chưa đủ 18 tuổi còn người đã thành niên là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Theo Điều 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em năm 1989 của Liên hiệp quốc thì “trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [9].
Mặc dù pháp luật quốc tế cho phép các quốc gia tùy vào chính sách pháp luật của mình mà quy định độ tuổi cụ thể để xác định người chưa thành niên nhưng nhìn chung khái niệm “người chưa thành niên” và “trẻ em” là đồng nhất, được sử dụng để thay thế cho nhau và đều dùng để chỉ những người dưới 18 tuổi. Đây là độ tuổi để một cá nhân được xem là có khả năng nhận thức đầy đủ. 8 Như vậy, quy định của pháp luật Việt Nam về độ tuổi được xem là có đầy đủ khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của cá nhân phù hợp với quy định của pháp luật quốc tế. Chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội đã hình thành, phát triển cùng với lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam và ngày càng được hoàn thiện, phù hợp hơn với thực tiễn.
Việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự không chỉ phản ánh chính sách hình sự của Nhà nước mà còn xuất phát từ quan điểm: con người đến một độ tuổi nhất định mới có năng lực trách nhiệm hình sự, hay nói cách khác là có năng lực nhận thức ý nghĩa xã hội và điều khiển hành vi theo sự nhận thức của bản thân. Khi đó mới có thể buộc họ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình. Trước khi BLHS năm 2015 ra đời, pháp luật hình sự Việt Nam sử dụng thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội”. Thuật ngữ này chưa thống nhất với quy định của các ngành luật khác về “người chưa thành niên”.
BLHS năm 2015 đã sử dụng thống nhất các thuật ngữ “người dưới 18 tuổi” và “người dưới 16 tuổi” để thay thế cho các thuật ngữ “người chưa thành niên” và “trẻ em”. Đây là sự thay đổi cần thiết, phù hợp với quan điểm về người chưa thành niên, tạo cơ sở để các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nhận thức và áp dụng pháp luật một cách thống nhất. Điều 8 của BLHS năm 2015 đã đưa ra khái niệm pháp lý về tội phạm, và độ tuổi là một trong những dấu hiệu quan trọng để xác định chủ thể của tội phạm. Điều 12 của BLHS năm 2015 quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự như sau: “1.
Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại 9 một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Như vậy, BLHS năm 2015 đã phân hóa trách nhiệm hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tương ứng với hai nhóm tuổi là “từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” và “từ đủ 16 tuổi trở lên”. Đồng thời liệt kê cụ thể 28 tội danh mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
Điều này có nghĩa pháp luật hình sự đã giới hạn cụ thể phạm vi chịu trách nhiệm hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội. Võ Khánh Vinh, “người chưa thành niên phạm tội theo quy định của Bộ luật hình sự là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội” [38, tr. Còn tác giả Đinh Văn Quế đưa ra định nghĩa pháp lý: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội và Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm” [10, tr. Như vậy, các nhà khoa học pháp lý đều định nghĩa về người dưới 18 tuổi phạm tội gồm hai yếu tố: một là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi và hai là, người đó đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS.
Tham khảo các quan điểm trên, tác giả đưa ra khái niệm pháp lý về người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Người dưới 18 tuổi phạm tội là người tại thời điểm thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được BLHS quy định là tội phạm đã đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, không ở trong tình trạng mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình và không thuộc một trong các trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự. Đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội Người dưới 18 tuổi phạm tội là chủ thể đặc biệt của tội phạm bởi họ chưa có sự phát triển hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý. Ở khía cạnh pháp lý, 10 họ là những người chưa có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Có thể nêu ra một số đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội như sau: Thứ nhất, người dưới 18 tuổi phạm tội có đặc điểm thể chất và tâm sinh lý chưa hoàn thiện: Về sinh học, người dưới 18 tuổi chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về cấu trúc sinh học và thể chất của cơ thể.
Hệ thần kinh trung ương của người dưới 18 tuổi hoạt động chưa cân bằng khiến họ dễ rơi vào những cơn xúc động mạnh hoặc nóng nảy vô cớ, dễ nảy sinh những hành vi thiếu kiềm chế. Về tâm lý, người dưới 18 tuổi bắt đầu có xu hướng sinh hoạt độc lập, dần hình thành thế giới quan cá nhân và đa số mong muốn tách mình ra khỏi sự quản lý của gia đình, nhà trường. Về nhân cách, người dưới 18 tuổi đang ở giai đoạn quan trọng của sự định hình về tính cách và chịu ảnh hưởng lớn từ thế giới bên ngoài. Về tình cảm, đây là giai đoạn người dưới 18 tuổi nảy sinh mối quan hệ tình yêu khác giới, bắt đầu biểu lộ tình cảm và thể hiện cảm xúc, thái độ thân mật hơn trong các mối quan hệ khác giới.
Tuy nhiên do chưa phát triển hoàn thiện về nhận thức và tâm lý nên họ gặp những khó khăn nhất định trong việc duy trì các mối quan hệ này. Về trí tuệ, người dưới 18 tuổi thích lập luận, suy diễn và nhìn nhận sự vật, hiện tượng theo quan điểm riêng của bản thân. Trong giai đoạn này, người dưới 18 tuổi chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ điều kiện kinh tế, quan điểm văn hóa, giáo dục của gia đình. Đây là giai đoạn gây nhiều lo ngại cho các bậc cha mẹ và xã hội vì lứa tuổi này dễ gặp phải những khủng hoảng về nhân cách, tâm lý.
Mặc dù đã có sự trưởng thành nhất định nhưng do chưa có sự tích lũy đầy đủ tri thức, kinh nghiệm sống nên trong nhiều trường hợp người dưới 18 tuổi không thể tự giải quyết ổn thỏa những mâu thuẫn cá nhân. Sự biến đổi nhanh về thể chất, tâm sinh lý cùng với nhận thức còn hạn chế của 11 người dưới 18 tuổi dẫn đến việc họ dễ bị người khác lôi kéo, kích động. Thứ hai, đa số người dưới 18 tuổi phạm tội thường thực hiện tội phạm giản đơn, có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội hạn chế hơn rất nhiều so với người trưởng thành: Đa phần người dưới 18 tuổi phạm tội xuất phát từ sự bộc phát cảm xúc hoặc do bị người khác rủ rê, lôi kéo, kích động. Tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện thường có tính chất giản đơn, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn, trong đó các tội phạm xâm phạm quyền sở hữu tài sản chiếm tỉ lệ lớn.
Khi thực hiện tội phạm, người dưới 18 tuổi thường giữ vai trò đồng phạm, cách thức thực hiện tội phạm cũng đơn giản, không có tính quyết liệt đến cùng và không tinh vi, xảo quyệt như người trưởng thành. Thứ ba, người dưới 18 tuổi phạm tội có khả năng cải tạo, giáo dục cao: Người dưới 18 tuổi là những người dễ học hỏi, tiếp thu vì đang ở trong lứa tuổi định hình, hoàn thiện về nhân cách. Do đó, việc giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi phạm tội thường thuận lợi hơn so với người trưởng thành. Đây là một trong những cơ sở khoa học và lý luận để pháp luật hình sự xây dựng nguyên tắc xử lý nhân đạo, hướng thiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Việc giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội thường gắn với nhiều thiết chế xã hội như gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội. trong đó vai trò của gia đình, bạn bè đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Người dưới 18 tuổi phạm tội nếu nhận được sự quan tâm, động viên thay vì kỳ thị, xa lánh của những người thân xung quanh thì khả năng giáo dục, cải tạo sẽ được cải thiện rất nhiều.