Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KHÍA CẠNH XÃ HỘI VỀ HÌNH PHẠT TỬ HÌNH 1. Khái niệm, đặc điểm và cơ sở các quy định pháp luật của hình phạt tử hình 1. Khái niệm của hình phạt tử hình Hình phạt tử hình cũng giống như tội phạm, đều là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Tuy nhiên, nếu tội phạm là một hiện tượng xã hội trái với các chuẩn mực chung của xã hội, của xã hội để chống lại sự vi phạm điều kiện tồn tại của mình.
Hình phạt tử hình là một loại hình phạt truyền thống có từ lâu đời tồn tại ở các quốc gia. Trong các đạo luật từ thời cổ xưa như Bộ luật Hammurabi, Đạo Luật Manu, Đạo luật 12 bảng thời La Mã… đã ghi nhận sự tồn tại của hình phạt tử hình. Theo pháp luật hình sự Việt Nam thì, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quy định trong Bộ luật hình sự, do Tòa án quyết định áp dụng đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người, pháp nhân thương mại đó. Tử hình là một trong những hình phạt thuộc hệ thống hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự.
Hiện nay có rất nhiều các khái niệm khác nhau về hình phạt tử hình. Xét về mặt ngôn ngữ, hình phạt tử hình là thuật ngữ có tên tiếng Anh là “death penalty” hay là “capital punishment”. Capital có nguồn gốc từ tiếng Latin là “capitalis”, trong đó có gốc của từ “kaput” có nghĩa là cái đầu, hình phạt làm mất đầu nghĩa là đã tước bỏ mạng sống của một người. Theo gốc từ Hán Việt nghĩa của chữ “tử hình” có nghĩa là hình phạt chết.
Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông thì “tử hình” là hình phạt phải chịu tội chết [54, tr. Theo từ điển Từ và Ngữ Việt Nam thì “Tử” nghĩa là “chết”, “hình” là hình thức trừng trị người phạm tội [tr. Như vậy, có thể hiểu, tử hình là hình thức trừng trị kẻ phạm tội bằng cái chết. Theo từ 8 điển giải thích thuật ngữ Luật học “Tử hình là hình phạt tước bỏ quyền sống của người bị kết án.
Tử hình được coi là hình phạt đặc biệt trong hệ thống hình phạt của Luật hình sự Việt Nam. Tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tử hình chỉ được áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng và được thi hành theo một thủ tục tố tụng chặt chẽ” [21, tr. Tử hình là hình phạt chính, tước bỏ quyền sống của người bị kết án, là hình phạt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt [44, tr. Các khái niệm về hình phạt tử hình nêu trên đều có điểm chung sau: tử hình là tước bỏ mạng sống của người phạm tội; tử hình là hình phạt nghiêm khác nhất trong hệ thống hình phạt; tử hình chỉ áp dụng đối với các trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng.
Theo nguyên tắc chung của pháp luật quốc tế, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với những loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên tùy vào mỗi quốc gia mà khái niệm tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lại được hiểu theo cách khác nhau. Trong Luật Hình sự Việt Nam, tử hình là loại hình phạt đặc biệt và nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Hình phạt tử hình phải được quy định trong Bộ luật Hình sự và chỉ do Tòa án quyết định.
Hình phạt tử hình là một hiện tượng xã hội mang tính khách quan. Đó chính là phương tiện của xã hội để tự bảo vệ mình và chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó. Tội phạm đe dọa sự tồn tại của xã hội nên xã hội phải phản ứng một cách tự nhiên là trừng trị người phạm tội [22]. Tại điều 40 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định: “Tử hình là hình phạt đặc biệt chỉ áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng thuộc một trong nhóm các tội xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác do Bộ luật này quy định”.
Như vậy, theo định nghĩa nêu trên đã khẳng định hình phạt tử hình là một loại hình phạt đặc biệt vì nó tước đi tính 9 mạng của người bị kết án. Và hình phạt này chỉ áp dụng với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng đối với một số nhóm tội nhất định, tùy vào mỗi giai đoạn khác nhau mỗi quốc gia khác nhau thì khái niệm về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng cũng sẽ khác nhau. Trên cơ sở những phân tích trên, có thể hiểu: Hình phạt tử hình theo pháp luật hình sự Việt Nam là biện pháp cưỡng chế hình sự đặc biệt nghiêm khắc nhất trong hệ thống hình phạt, tước đi quyền sống của người bị kết án và chỉ được áp dụng đối với người phạm tội có tính chất nguy hiểm đặc biệt cao cho xã hội. Đặc điểm của hình phạt tử hình Hình phạt tử hình là một loại hình phạt trong hệ thống hình phạt do đó cũng mang những đặc điểm chung của hệ thống hình phạt: là công cụ đấu tranh phòng ngừa tội phạm của nhà nước; là biện pháp cưỡng chế, trừng trị nghiêm khắc của nhà nước, được nhà nước bảo đảm thực hiện bằng quyền lực của mình; mang đến những hậu quả bất lợi cho người phạm tội; phải được quy định trong pháp luật hình sự, đặc điểm này là yêu cầu của nguyên tắc pháp chế; phải do Tòa án quyết định áp dụng theo một trình tự thủ tục tố tụng do luật định và được quyết định bằng một bản án.
Như vậy nội dung, điều kiện và phạm vi áp dụng của hình phạt phải được pháp luật quy định từ đó tránh được sự tùy tiện của các cơ quan tiến hành tố tụng khi áp dụng. Tuy nhiên, vì là một loại hình phạt đặc biệt nên hình phạt tử hình cũng mang những điểm khác biệt với các loại hình phạt khác. Thứ nhất, hình phạt tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất - tước đoạt mạng sống của người phạm tội, đây là hình phạt duy nhất trong hệ thống hình phạt có quy định này. Thứ hai, hình phạt tử hình chỉ được áp dụng đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng mà nhà nước thấy cần phải loại bỏ hoàn toàn sự tồn tại của người phạm tội để bảo vệ những lợi ích chung của cộng đồng.
Chỉ khi hành vi phạm tội gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội, và hành vi này phải được quy định trong luật, vì ở mỗi thời điểm khi chính sách hình sự thay đổi thì việc áp dụng hình phạt tử hình cũng sẽ thay đổi theo đối với mỗi loại tội. Đây là biểu hiện của nguyên tắc 10 pháp chế xã hội chủ nghĩa, phản ánh tính nghiêm minh của pháp luật trong việc phòng ngừa tội phạm chung. Thứ ba, hình phạt tử hình chỉ áp dụng khi có một bản án của Tòa án có thẩm quyền quyết định và là kết quả của một phiên tòa xét xử nghiêm minh đúng quy định pháp luật. Việc áp dụng phải tuân theo một quy trình tố tụng hết sức chặt chẽ, như vậy mới bảo đảm được sự thận trọng, khách quan, toàn diện, tránh oan sai vì nếu sai lầm trong việc áp dụng hình phạt tử hình thì hậu quả là không thể khắc phục được.
Thứ tư, hình phạt tử hình không đặt ra mục đích giáo dục, cải tạo người bị kết án vì đã loại bỏ hoàn toàn cơ hội thay đổi và tái hòa nhập cộng đồng của người bị kết án. Tuy vậy, hình phạt tử hình vẫn đạt được mục đích phòng ngừa riêng là loại bỏ khả năng phạm tội mới của người bị kết án và mục đích phòng ngừa chung là răn đe mạnh mẽ, ngăn ngừa những người khác đi vào con đường phạm tội. Thứ năm, mặc dù tước đi quyền sống của người phạm tội nhưng quy định về hình phạt tử hình trong Bộ luật hình sự vẫn phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, vì việc áp dụng hình phạt này để bảo vệ lợi ích của cả cộng đồng, loại trừ nguy cơ đe dọa cộng đồng. Bên cạnh đó, việc áp dụng hình phạt tử hình chỉ được áp dụng với một số loại tội danh, và loại trừ đối tượng bị tử hình là người chưa thành niên, phụ nữ có thai hoặc phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đủ 75 tuổi trở lên khi phạm tội hoặc khi bị xét xử.
Cơ sở các quy định pháp luật của hình phạt tử hình Về cơ sở pháp lý, hình phạt tử hình được quy định xuất phát từ việc thực hiện nhiệm vụ của bộ luật hình sự, được quy định rõ ràng ngay tại Điều 1 Bộ luật hình sự 2015 “Bộ luật hình sự có nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền quốc gia, an ninh của đất nước, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật, chống mọi hành vi phạm tội; giáo dục mọi người ý thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm”. Qua đó ta thấy rõ các quan hệ xã hội quan trọng mà Bộ luật hình sự cần phải bảo vệ bằng hình phạt 11 nói chung và hình phạt tử hình nói riêng, ngoài ra còn có nhiệm vụ giáo dục ý thức thức tuân theo pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm cho mọi người trong xã hội.