CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÌNH PHẠT CẢI TẠO KHÔNG GIAM GIỮ THEO LUẬT HÌNH SỰ 1. Những vấn đề lí luận về hình phạt cải tạo không giam giữ 1. Khái niệm, vai trò của hình phạt cải tạo không giam giữ * Khái niệm hình phạt Trong lĩnh vực khoa học hình sự, tội phạm và hình phạt thuộc những đối tượng nghiên cứu chủ yếu và quan trọng nhất, trong đó việc làm sáng tỏ khái niệm hình phạt là một vấn đề vô cùng quan trọng. Để có cái nhìn tổng quan nhất về hình phạt cải tạo không giam giữ trong quy định của bộ luật hình sự từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, trước hết chúng ta cần xem xét một cách tổng thể lý luận về hình phạt.
Trong những công trình nghiên cứu đã có nhiều quan niệm khác nhau về bản chất và nội dung của hình phạt. Nhìn chung các quan niệm đó có thể được chia thành hai loại như sau: - Quan niệm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trừng trị, trả thù người có hành vi phạm tội và lấy sự khắc nghiệt của hình phạt làm điều răn đe cho người phạm tội; - Quan niệm thứ hai coi hình phạt là công cụ pháp lý cần thiết trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, cải tạo giáo dục cảm hóa người phạm tội. Về vấn đề này, trong cuốn giáo trình sách chuyên khảo phát hành của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011 do PGS. Trịnh Quốc Toản chủ biên "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về hình phạt bổ sung trong luật hình sự Việt Nam", đã tổng kết như sau: Quan điểm coi hình phạt là sự trừng trị của Nhà nước dựa theo học thuyết trừng trị (Vergeltungstheorie) hay còn gọi là học thuyết hình phạt tuyệt đối (Ab 7 solut Straftheorie do Imanuel Kant (1724-1804) và sau đó là George Wilhelm Friedrich Hegel (1770-1831) chủ trương.
Trong tác phẩm "Lý luận siêu hình", I. Kant cho rằng, sự bất bình đẳng do hành vi của người phạm tội gây ra phải được trả giá bằng hình phạt, thông qua đó thì trật tự pháp luật bị xâm phạm mới được khôi phục. Việc áp dụng hình phạt nhằm bảo đảm công lý, công bằng được thực thi. Người phạm tội là người làm điều sai trái đối với xã hội nên cần phải được đền đáp cho những sai trái đóbằng chính hình phạt, họ chính là kẻ thù của xã hội chứ không phải là thành viên của xã hội.
Theo quan điểm như vậy có thể thấy rằng hình phạt ở đây chỉ có nhằm mục đích là trừng trị, trả thù, chứ tuyệt nhiên không có mục đích phòng ngừa tội phạm. Theo các học thuyết này, hình phạt không hướng vào việc trả thù người phạm tội mà chỉ nhằm phòng ngừa tội phạm trong tương lai. Do không có học thuyết nào là phù hợp vượt trội để biện minh cho sự tồn tại của hình phạt, nên có học giả đã hợp nhất hai học thuyết trên thành học thuyết liên hợp (Vereinigungstheorie), mà những người đại diện xuất sắc là A. Theo học thuyết này, thì hình phạt không chỉ có mục đích trừng trị mà còn có mục đích phòng ngừa tội phạm.
Với nhận thức về cơ sở pháp lý và ý nghĩa của hình phạt như trên, nên trong khoa học luật hình sự nước ngoài xuất hiện nhiều khái niệm về hình phạt khác nhau như: Coi hình phạt chính là sự trừng trị được pháp luật quy định nhằm mục đích phòng ngừa và trấn áp những hành vi cấu thành tội phạm gây phương hại, mất an toàn đến trật tự xã hội.; coi hình phạt là sự trả giá của việc thực hiện những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng bằng cách 8 trừng trị các điều ác được thực hiện thích ứng với mức độ của sự bất công và lỗi. Nó là sự khiển trách một cách công khai hành vi vi phạm pháp luật, qua đó khôi phục lại niềm tin công lý. Ngoài ra hình phạt cũng cần phải mở rộng sự tác động tích cực vào người phạm tội. Hay trong khoa học luật hình sự rất phát triển là Liên Xô trước đây và Liên bang Nga, hiện nay, theo GS.
Lê Văn Cảm tổng kết, ngày nay có các quan điểm coi hình phạt hoặc là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm nhằm mục đích ngăn ngừa chung và ngăn ngừa riêng (Natasev A. Hoặc là sự trừng trị, tức là gây cho người có tội những đau đớn và những sự tước đoạt do luật định mà người đó phải chịu (Đementrev X. Hoặc là một trong các biện pháp đấu tranh chống tội phạm mà nội dung của nó là kết hợp thuyết phục với cưỡng chế (Karpetx). Còn trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học luật hình sự Việt Nam, các nhà khoa học luôn đi theo những tư tưởng tiến bộ, nhân đạo và hướng thiện về hình phạt, nên đã đưa ra những quan niệm về hình phạt mà về cơ bản là thống nhất, mặc dù trong mỗi quan niệm đó có những sự khác nhau nhất định, như: GS.TSKH Lê Văn Cảm quan niệm về hình phạt thì hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành.TS Nguyễn Ngọc Hòa định nghĩa về hình phạt thì đó là biện pháp cưỡng chế Nhà nước nghiêm khắc nhất được quy định trong luật hình sự, do Tòa án áp dụng cho chính người đã thực hiện tội phạm, nhằm răn đe, trừng trị, và giáo dục cảm hóa họ, góp phần vào công cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm, bảo vệ chế độ và trật tự xã hội cũng như bảo vệ các quyền và 9 lợi ích hợp pháp của của công dân.
TS Trịnh Quốc Toản trên cơ sở phân tích nhiều quan điểm khoa học và các đặc điểm cơ bản của hình phạt thì cho rằng hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, được pháp luật quy định, do Tòa án áp dụng đối với người bị kết án và được thể hiện ở việc tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người bị kết án nhằm giáo dục, cải tạo, cảm hóanhững người này và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo cho luật hình sự thực hiện được nhiệm vụ then chốt của mình đó là bảo vệ và đấu tranh phòng, chống tội phạm v. * Mục đích của hình phạt Từ trước đến nay khi nghiên cứu những vấn đề lý luận của hình phạt trong khoa học luật hình sự, các mục đích của hình phạt là vấn đề làm tốn giấy mực nhiều nhất giữa quan điểm các nhà khoa học nhìn thực tiễn trong và ngoài nước như: Hình phạt có mục đích trừng trị người phạm tội hay mục đích giáo dục người phạm tội hoặc cả hai mục đích đó; hình phạt ngoài hai mục đích đó còn mục đích khác không; trừng trị là thuộc tính hay mục đích của hình phạt; v. Tuy nhiên, về mặt lập pháp, Bộ luật hình sựViệt Nam năm 1985 và 1999 đã thể hiện rõ quan điểm chính thức của Nhà nước về mục đích cụ thể của hình phạt đó là : Hình phạt không chỉ có tính trừng trị người phạm tội mà bên cạnh đó nó còn mang tính giáo dục, cảm hóa những người phạm tội trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo thượng tôn pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn chặn phòng ngừa họ phạm tội mới. Hình phạt còn nhằm giáo dục cho con người tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm (Điều 27 Bộ luật hình sự).[31] Như vậy, khi đi sâu vào phân tích, tìm hiều quy định tại Điều 31 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015, nhiều người cho rằng Bộ luật hình sự đã quy 10 định mục đích "trừng trị" người thực hiện hành vi phạm tội của hình phạt là điều không thể phủ nhận, theo quan điểm riêng của học viên, mục đích của hình phạt bao gồm hai mục đích chính như sau: Một là, mục đích phòng ngừa riêng của hình phạt trước hết phải được thể hiện ở chỗ việc áp dụng hình phạt đối với tất cả những người có hành vi phạm tội không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục những người này trở thành người có ích cho xã hội, ngăn ngừa họ phạm tội mới sau khi trở về hòa nhập cộng đồng.
Đó chính là sự tước bỏ, sự hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định của pháp luật hình sự đối với người bị áp dụng hình phạt, thể hiện rõ nét sự lên án, trừng trị của Nhà nước, xã hội đối với tội phạm. Nhưng suy cho cùng thì đó không phải là sự lên án, sự trừng phạt đơn thuần mà là đó chính là những biện pháp đặc biệt dùng để răn đe thông qua nhiều hình thức như cưỡng chế để giáo dục cải tạo người bị kết án, ngăn ngừa họ phạm tội lại sau khi trở về địa phương tái hòa nhập với cộng đồng. Hình phạt cũng còn là biện pháp áp dụng đặc biệt nhằm hạn chế những điều kiện phạm tội lại của người bị Tòa án kết tội. Mức độ của việc áp dụng hình phạt đối với người phạm tộinhư tước bỏ và hạn chế những quyền và lợi ích hợp pháp của họ tất cả đều phải phụ thuộc vào tính chất mức độ nguy hiểm từ hành vi của họ gây ra cho xã hội, vào nhân thân, lý lịch của người phạm tội cũng như việc áp dụng những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hành vi mà người phạm tội gây ra.
Mục đích quan trọng chủ yếu trong phòng ngừa riêng của hình phạt chính là cải tạo, giáo dục, cảm hóa người phạm tội để sau này khi tái hòa nhập cộng đồng họ sẽ trở thành người có ích cho xã hội. Trong mục đích phòng ngừa riêng, trừng trị và cải tạo, giáo dục, cảm hóa người phạm tội và ngăn ngừa họ phạm tội mới chính là hai mục đích song song tồn tại và có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và chỉ có thể đạt được mục đích cuối cùng và chủ yếu nhất đó chính là cải tạo, 11 giáo dục người phạm tội nếu hình phạt áp dụng đối với họ tương xứng với hành vi phạm tội của họ đã gây ra.