phần mở đầu và phần kết luận, luận văn dojge chia thanh ba chgjong: Chojơng một là những vấn đề chung. Chúng tôi sẽ trình bày khái quát về tác giả Cao Hành Kiện và tiểu thuyết Linh sơn. Cùng với đó là những lý thuyết chúng tôi sẽ sử dụng trong luận văn về nhà văn hải ngoại, văn hóa học và ký hiệu học. 11 Chojơng hai chúng tôi bàn đến vấn đề biểu hiện của văn hóa Trung Hoa trong tiểu thuyết Linh sơn của Cao Hành Kiện trên các phoJơng diện văn hóa Trung Hoa truyền thống, lịch sử Trung Quốc thế kỷ XX, ý thức bảo tồn văn hóa truyền thống của một nhà van loju vong nhơi Cao Hành Kiện.
Chojơng ba chúng tôi đề cập tới vấn đề biểu hiện của văn hóa phoJơng Tây trong tiểu thuyết Linh sơn. Ở chojơng này chúng tôi đề cập tới khía cạnh anh hojong cua chi nghĩa hậu hiện đại tới thi pháp của tiêu thuyết Linh sơn. 12 PHAN NOI DUNG CHGJONG 1: NHU'NG VAN DE CHUNG 1. Hién toyong da van hoa trong sáng tác của các nhà văn hải ngoại Cộng đồng các nhà văn hải ngoại là một tồn tại mang tính phổ biến trên thế giới.
Vì nhiều lý do mà họ phải xa rời quê hoJơng, tổ quốc, di cơi đến một đất nojớc khác. Theo nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm, di co/ di trú/ di dân, “danh từ gốc có tiếng latin này có nghĩa đen là sự “xuất cảnh”, “trục xuất” từ nojớc này sang nơiớc khác, và về bản chất, đó là một quá trình có khởi đầu và kết thúc, có giới hạn về không gian và thời gian. Về mặt định tính, di co] co thé 1a tu nguyén hoac bắt buộc; nguyên nhân dẫn đến tình trạng này cũng rất đa dạng, bao gồm những nguyên nhân về kinh tế, chính trị, tôn giáo, văn hóa, sắc tộc hoặc vì lý do riêng” [23, tr. 13], “Những nggiời di tản khi định œJở một vùng đất/ quốc gia mới ngoài quê hơiơng/ tổ quốc mình, có nhu cầu bảo tồn sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa sẽ tạo nên một cộng đồng kiều dân/ cộng đồng hải ngoại.
14] Nho vậy, các nhà văn hải ngoại, họ là những cá nhân thuộc về cộng đồng kiều dân, những con ngojời di co và sống lơiu vong ngoài tổ quốc của họ. Sự loiu vong xá phát từ nhiều nguyên nhân do hoàn cảnh lịch sử, do mâu thuẫn với chính quyền, do lý do kinh tế. Khi lotu vong nhơi vậy “nhu cầu bảo tồn sự thống nhất về ngôn ngữ và văn hóa” là động lực để những ngojời loiu vong hợp thành các cộng đồng tại quốc gia họ đến. Đặc biệt, trong thời đại 4.0 hiện nay, họ liên kết lại thành cộng đồng lớn hơn, cộng đồng những nggojời lou vong, xa xứ nơi nojớc ngoài.
Thuộc về cộng đồng kiều dân, những tác giả hải ngoại vừa mang đặc điểm chung của lớp ngơjời di cơI, vừa mang đặc điểm riêng để khu biệt họ thành một nhóm đối totợng khá đặc biệt và phức tạp. Các nhà văn, họ là những con ngojời nhạy cảm trojoc sự đôi thay của môi trojong, xã hội, thời cuộc. Đồng thời đứng trojớc những đổi 13 thay đấy, họ dùng nghệ thuật ngôn từ để chuyển tải suy nghĩ, tình cảm, tâm tơi, nguyện vọng lên trang giấy. Đầu tiên, họ mang trong mình nỗi niềm cỗ quốc của con ngojời xa xứ nhơi nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm từng viết: “Bất cứ sự loiu vong nào, dò tự nguyện hay bắt buộc, cũng đều là bi kịch, là nỗi đau chia cắt, là nỗi sầu cố hgjong, 1a c6 đơn di trú”.
[23, trang bìa 4] Vì thé van chojong cia cdc nhà văn lơiu vong luôn chứa đựng nỗi nhớ nơiớc, nhớ quê hojơng và các biểu tojợng, ký hiệu văn hóa của riêng Ô quốc họ. Nhơing ở nơi xứ ngơiời, những tác giả hải ngoại còn gặp trở ngại không nhỏ trong mâu thuẫn giữa ngơjời di trú với đời sống văn hóa xã hội bản địa. Nhà văn phải sáng tác nơi đất khách với cuộc sống mới, vùng đất mới, nơi chứa đựng ngôn ngữ, văn hóa mới. Từ mâu thuẫn đó mà đặt ra cho ngoiời sáng tác không ít trăn trở về việc kiên quyết gìn giữ nét văn hóa truyền thống của cố quốc hay mềm dẻo hơn, vừa gìn giữ, vừa tiếp nhận, giao hòa truyền thống cùng văn hóa bản địa.
Từ đấy xuất hiện hai trolờng hợp, những nhà văn lơiu vong nhoỊng vẫn kiên tì sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ (nhọ troJờng hợp của Ivan Bunin, Cao Hành Kiện) và những nhà văn sáng tác bằng hai thứ tiếng, bên cạnh tiếng mẹ đẻ là ngôn ngữ bản địa. Các nhà văn sáng tác song song hai hay nhiều thir tiéng nhoj vay, họ trở thành những tác giả song ngữ (nhơi trojờng hợp của Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, V.] song ngũ/ song văn hóa là trỏ tình trạng một cá nhân hay một cộng đồng (nhóm xã hội, tộc ngojời,.) có khả năng sử dung thành thạo ngôn ngữ thứ hai, ngoài tiếng mẹ đẻ/ thuộc về nền văn hóa thứ hai, ngoài nền văn hóa thuộc về tộc ngojời của minh. Cùng với đó là cách thê hiện dé tài, chủ đề, cách triển khai không gian, thời gian trong tác phâm nghệ thuật của nhà văn. Họ sẽ lấy sáng tác bối cảnh là cố hoJơng hay bối cảnh đất nojớc họ chuyên tới sinh sống, không gian một chiều hay không gian đa 14 chiều, thời gian hiện tại hay thời gian quá khứ.
Qua đó hình toJợng nhân vật trong sáng tác của họ cũng xuất hiện nhiều giằng xé, mâu thuẫn nội tâm giữa một bên là quá khứ, một bên là thực tại, một bên là cố hoøJơng, một bên là xứ ngo|ời. Các tác giả hải ngoại dù họ kiên trì sáng tác bằng tiếng mẹ đẻ hay sáng tác bằng cả hai ngôn ngữ hoặc chỉ viết bằng thứ tiếng của đất nojớc họ di cơi tới (troờng hợp da Kazuo Ishiguro) thì văn chơiơng những nhà văn đó vẫn luôn mang nặng cảm thức của con nggojời lơiu vong xa xứ. Đồng thời các tác giả ấy cũng trở thành kiểu nhà văn song văn hóa khi trong nội tại con ngojời họ một bên vừa là văn hóa cỗ quốc, một bên vừa hà văn hóa bản địa họ loiu vong tới. Từ khó khăn đấy của các nhà văn loiu vong, nhà nghiên cứu Phạm Gia Lâm đã chỉ ra: “Nhà văn rời bỏ không gian sống quen thuộc của mình và tiếp tục sáng tác trong điều kiện của một không gian khác, xa lạ.
Nếu tính đến công cụ lao động sáng tạo của nhà văn là ngôn ngữ thì dễ hiểu nhà văn di tản đứng trojớc khó khăn về ngôn ngữ nho\ thé nào.] Vị trí địa lý hoặc mô hình ngôn ngữ quyết định nhơI thế nào bản sắc dân tộc của nhà văn? Liệu nhà văn có trở thành đại diện của một nền văn học dân tộc khác khi vừa thay đổi nơi ở vừa thay đổi mô hình ngôn ngữ hay không? Số phận của diễn ngôn văn học mà nhà văn hải ngoại lựa chọn là nhơi thế nào? Sáng tác của họ đơjợc tiếp nhận thé nào trong troiờng văn học của xã hội nhập co| và tro|ờng văn học của “mẫu quốc” [23, tr. 10] Tất cả dat ra van đề vị trí sáng tác của những nhà văn hải ngoại ở đâu trong nền văn học thế giới? Khi một bên văn choJơng họ vừa đại diện cho một phần lịch sử cố quốc họ từng sinh sống và một bên văn choJơng họ cũng không thể tách rời đời sống xã hội vùng đất bản dia ho tai dinh cg. Su da van hóa, giao thoa văn hóa đã làm nên tính phức tạp trong khía cạnh từ nội dung, to, tong, nghệ thuật ở bản thân tác phẩm các nhà 15 văn hải ngoại viết ra đến tính phức tạp khi khu biệt sáng tác cùng nhà văn đó vào tiến trình văn học sử của cả hai bên có quốc lẫn đất nơjớc bản địa của tác giả. Trong số những tác giả lou vong, có thê kế đến các tên tuổi nổi tiếng nhơi an Bunin, Josept Conrad, Thomas Mann, Samuel Beckett, Vladimir Nabokov, Kazuo Ishiguro, Cao Hành Kiện.
Những nhà văn đó khác nhau về nơi sinh ra, quốc tịch, tiếng nói, ngôn ngữ, niên đại họ sinh sống. Họ cũng có thể khác nhau về cách thức sáng tác hay dấu ấn có quốc hẳn in trong văn chơơng của họ. NhoỊng những con ngơời đó đều gặp nhau ở tâm thức của con ngojời xa xứ, loiu vong nơi đất khách quê ngơjời, gặp nhau ở cảm giác vô dinh “thiéu qué hojong”. Vi thế, bản thân các tác giả hải ngoại cùng sáng tác của họ dẫu có thể mang nhiều tranh cãi về vị trí trong tiến trình văn học sử song không thê phủ nhận, chính những tác phẩm đơojợc viết lên bởi những nhà văn lotu vong đã góp phần không nhỏ tái hiện tâm lý, cuộc sống của cộng đồng kiều dân bởi nhiều lý do mà phải tha hojơng xứ nggiời.
Cao Hành Kiện và dòng chảy văn học Trung Quéc dojong dai Trong tiến trình văn học đơjơng đại Trung Quốc, Cao Hành Kiện có một vị trí khá đặc biệt. Đặc biệt bởi mỗi giai đoạn, ông lại gắn bó với văn học Trung Quốc theo một cách khác nhau. Những năm Cao Hành Kiện sống tại Trung Quốc, ông là nhà văn tiên phong trong những thể nghiệm mới mẻ ở các thê tài sáng tác. Và khi đã trở thành nhà văn lơiu vong, tác phẩm của Cao Hành Kiện trở thành một bộ phận của văn học Trung Hoa hải ngoại mà ở đó văn học cùng văn hóa Trung Hoa trở thành chất liệu đặc trojng trong sang tác của ông.
Cao Hành Kiện sinh ngày 04 tháng 1 năm 1940 tại Cống Châu, một huyện thuộc tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Ông tốt nghiệp chuyên ngành tiếng Pháp của tro|ờng Đại học Ngoại ngữ Bắc Kinh vào năm 1962. Sau khi tốt nghiệp, Cao Hành Kiện đến làm 16 việc tại tạp chí Trung Hoa tái thiết với cojong vị một phiên dịch viên tiếng Pháp trong năm năm. Trong thời kì Cách mạng Văn hóa năm 1966, Cao Hành Kiện bị doa vao trai hoc tập cải tạo.
Đến năm 1975, ông đơiợc trả tự do và quay trở về làm việc tại Cục xuất bản ngoại văn. Tới năm 1978, Cao Hành Kiện chuyên tới làm phiên dịch cho Hiệp hội tác gia Trung Quốc. Năm 1981, ông chuyên sang làm công tác biên kịch cho Đoàn Nghệ thuật Nhân dân. Trong thời gian này, Cao Hành Kiện vẫn kiên định với con đojờng sáng tạo nghệ thuật của mình.
Những sáng tác của ông đã thê hiện sự cách tân mạnh mẽ về mặt nghệ thuật, đơia tác phẩm tiệm cận với văn học hiện đại và hậu hiện đại trên thế giới. “Ông viết rất nhiều, nhơỊng trolớc năm 1979, các tác phẩm của Cao Hành Kiện đều bị đám công bố.