CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Khái quát hệ thống hồ sơ địa chính 1. Hệ thống bản đồ và hồ sơ địa chính [16] Hồ sơ địa chính có vai trò rất quan trọng đối với công tác quản lý đất đai. Hồ sơ địa chính là tập hợp tài liệu thể hiện thông tin chi tiết về hiện trạng và tình trạng pháp lý của việc quản lý, sử dụng các thửa đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước về đất đai và nhu cầu thông tin của cá nhân, tổ chức có liên quan.
Theo thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về Hồ sơ địa chính, thành phần HSĐC gồm: Bản đồ địa chính; Sổ địa chính; Sổ mục kê đất đai; Sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu GCNQSD đất được lập dưới dạng giấy và dạng số. - Bản đồ địa chính; Sổ địa chính; Sổ mục kê đất đai; Sổ theo dõi biến động đất đai có nội dung được lập và quản lý trên máy tính dưới dạng số (sau đây gọi là CSDL địa chính) để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp tỉnh, cấp huyện và được in trên giấy để phục vụ cho quản lý đất đai ở cấp xã. Địa phương chưa xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính thì được tiếp tục sử dụng HSĐC dạng giấy. CSDL địa chính bao gồm dữ liệu Bản đồ địa chính và các dữ liệu thuộc tính địa chính.
- Dữ liệu bản đồ địa chính được lập để mô tả các yếu tố tự nhiên có liên quan đến việc sử dụng đất bao gồm các thông tin: thể hiện vị trí, ranh giới, diện tích các thửa đất và các đối tượng chiếm đất không tạo thành thửa đất; được lập để đăng ký đất đai, cấp Giấy chứng nhận và các nội dung khác của quản lý nhà nước về đất đai + Vị trí, hình dạng, kích thước, tọa độ đỉnh thửa, số thứ tự, diện tích, mục đích sử dụng của các thửa đất; + Vị trí, hình dạng, diện tích của hệ thống thủy văn gồm: sông, ngòi, kênh, rạch, suối; Hệ thống thủy lợi gồm: hệ thống dẫn nước, đê, đập, cống; Hệ thống đường giao thông gồm: đường bộ, đường sắt, cầu và các khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 + Vị trí, tọa độ các mốc giới và đường địa giới hành chính các cấp, mốc giới và chỉ giới quy hoạch sử dụng đất, mốc giới và ranh giới hành lang bảo vệ an toàn công trình; + Điểm tọa độ địa chính, địa danh và các ghi chú thuyết minh. - Các dữ liệu thuộc tính địa chính được lập để thể hiện nội dung: Sổ mục kê đất đai, Sổ địa chính và Sổ theo dõi biến động đất đai quy định tại “Điều 47 của Luật Đất đai’’ [6] bao gồm các thông tin: + Thửa đất gồm: mã thửa, diện tích, tình trạng đo đạc lập BĐĐC; + Các đối tượng có chiếm đất nhưng không tạo thành thửa đất (không có ranh giới khép kín trên bản đồ) gồm tên gọi, mã đối tượng, diện tích của hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi, hệ thống đường giao thông và các khu vực đất chưa sử dụng không có ranh giới thửa khép kín; + Người sử dụng đất hoặc người quản lý đất gồm tên, địa chỉ, thông tin về chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu, văn bản về việc thành lập tổ chức; + Tình trạng sử dụng của thửa đất gồm hình thức sử dụng, thời hạn sử dụng, nguồn gốc sử dụng, những hạn chế về quyền sử dụng đất, số hiệu Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp, mục đích sử dụng, giá đất, tài sản gắn liền với đất, nghĩa vụ tài chính về đất đai; + Những biến động về sử dụng đất trong quá trình sử dụng gồm những thay đổi về thửa đất, về người sử dụng đất. Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính - Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn. - Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật đất đai.
- Nội dung thông tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với Giấy chứng nhận được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất. Trách nhiệm lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính - Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm đầu tư và chỉ đạo việc lập, chỉnh lý HSĐC theo thông tư thông tư số 24/2014/TT-BTNMT; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 - Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đo vẽ bản đồ địa chính và chỉ đạo việc xây dựng CSDL địa chính, lập và chỉnh lý HSĐC ở địa phương; - Văn phòng đăng ký đất đai thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau: + Quản lý và vận hành CSDL địa chính; + Chỉnh lý dữ liệu bản đồ địa chính và cập nhật, chỉnh lý dữ liệu thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp, chỉnh lý Giấy chứng nhận của cấp tỉnh; + In Bản đồ địa chính, Sổ địa chính, Sổ mục kê đất đai cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã sử dụng; + Trong thời gian chưa xây dựng được CSDL địa chính thì thực hiện việc lập, chỉnh lý, quản lý HSĐC trên giấy và sao hai (02) bộ, một (01) bộ gửi Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai, một (01) bộ gửi UBND cấp xã để phục vụ yêu cầu quản lý đất đai tại địa phương nơi có đất. - Phòng Tài nguyên và Môi trường chịu trách nhiệm thực hiện các công việc sau: + Cập nhật, chỉnh lý bản đồ địa chính và dữ liệu thuộc tính địa chính đối với các trường hợp thuộc thẩm quyền cấp mới hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận của cấp huyện; + Trong thời gian chưa xây dựng được CSDL địa chính thì thực hiện việc cập nhật, chỉnh lý HSĐC trên giấy theo quy định của Thông tư thông tư số 24/2014/TT-BTNMT. - UBND cấp xã chịu trách nhiệm hỗ trợ người dân trong kê khai hồ sơ, Tra cứu vào HSĐC trên giấy đang quản lý đối với tất cả các trường hợp biến động về sử dụng đất.
- Các cơ quan có trách nhiệm thực hiện việc đo đạc lập bản đồ địa chính và xây dựng CSDL địa chính, được phép thuê dịch vụ tư vấn để thực hiện các nhiệm vụ được giao. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính 1. Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính [15] Cơ sở dữ liệu địa chính là một CSDL địa lý chuyên ngành; đối tượng quản lý của nó là thửa đất, thuộc tính của thửa đất, các đối tượng chiếm đất trên bề mặt tự nhiên nhưng không hình thành thửa đất.
Như vậy, một hệ thống Cơ sở dữ liệu địa chính nếu xét dưới góc độ công nghệ thì hệ thống bao gồm: - Thiết bị phần cứng và thiết bị ngoại vi. - Hệ thống phần mềm và các thủ tục cần thiết để xây dựng và phân tích. - Cơ sở dữ liệu. - Con người vận hành.
Phần cứng - Máy tính và các thiết bị ngoại vi Về cơ bản hệ thống thiết bị phần cứng của một hệ thống thông tin địa lý bao gồm các phần chính là Bộ xử lý trung tâm (CPU), các thiết bị đầu vào như bàn số hoá, máy quét, các thiết bị thu nhận thông tin điện từ. các thiết bị lưu trữ (bộ nhớ ngoài), thiết bị hiển thị (màn hình), thiết bị in (máy vẽ). Máy tính còn gọi là bộ xử lý trung tâm (CPU) được nối với thiết bị chứa bộ nhớ ngoài (ổ đĩa) để chứa không gian lưu trữ số liệu và các chương trình. Máy số hoá hoặc thiết bị chuyên dụng khác có nhiệm vụ chuyển hoá các số liệu từ bản đồ và các tư liệu thành dạng số rồi đưa vào máy tính.
Máy vẽ (Plotter) hoặc các loại thiết bị tương tự khác được sử dụng để xuất dữ liệu ở dạng số trên màn hình hoặc trên nền vật liệu in. Sự liên hệ nội bộ bên trong máy tính giữa các cấu thành của phần cứng cũng có thể được thực hiện thông qua hệ thống mạng với các đường dẫn dữ liệu đặc biệt. Người sử dụng các thiết bị máy tính và liên kết với các thiết bị ngoại vi khác như máy in, máy vẽ, máy số hoá và các thiết bị ngoại vi khác thông qua một thiết bị hiển thị hình ảnh (Video Display Unit - VDU) để cho phép các sản phẩm đầu ra được hiển thị nhanh chóng. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Hệ thống phần mềm và các thủ tục cần thiết để xây dựng và phân tích Hệ thống phần mềm bao gồm: phần mềm hệ thống, phần mềm quản trị, phần mềm ứng dụng. Các phần mềm trong lĩnh vực hệ thống thông tin địa chính phải bảo đảm được chức năng sau: Các dữ liệu không gian thu thập từ các nguồn dữ liệu khác nhau như bản đồ, tư liệu địa chính số liệu đo ngoại nghiệp. phải có được chức năng liên kết và xử lý đồng bộ. Có khả năng lưu trữ, sửa chữa đồng bộ các nhóm dữ liệu địa chính phục vụ các phân tích tiếp theo và còn cho phép biến đổi nhanh và chính xác các dữ liệu không gian.
Đảm bảo các khả năng phân tích ở các trạng thái khác nhau, có khả năng thay đổi cấu trúc dữ liệu phục vụ người dùng, các nguyên tắc để kết nạp các sản phẩm, các biện pháp đánh giá chất lượng sản phẩm và các nguyên tắc xử lý chuẩn các thông tin theo không gian, thời gian cũng như theo các kiểu mẫu thích hợp khác. Các dữ liệu phải có khả năng hiển thị toàn bộ hoặc từng phần theo thông tin gốc, các dữ liệu nếu đã qua xử lý cần phải thể hiện tốt hơn bằng các bảng biểu hay các loại bản đồ địa chính. Chính vì vậy, có thể định nghĩa phần mềm như sau: Phần mềm có thể chia làm hai lớp: - Lớp phần mềm mức thấp: Hệ điều hành cơ sở; - Lớp phần mềm mức cao: Các chương trình ứng dụng, dùng thực hiện việc thành lập bản đồ và các thao tác phân tích không gian địa lý. Vai trò, đặc tính phần mềm được gắn liền với kiến trúc của phần cứng sử dụng trong máy tính và sự tiến bộ của công nghệ tin học.
Ngày nay phần lớn các phần mềm GIS là giao diện thân thiện với người sử dụng. Cơ sở dữ liệu địa chính: là tập hợp thông tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính, bao gồm * Dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính.