Chương 1: Giới thiệu chung đề tài nghiên cứu. Chương 2: Lý luận cơ bản về sự tuân thủ thuế TNDN và hệ thống kiểm soát thuế. Chương 3: Thực trạng tuân thủ thuế TNDN và hệ thống kiểm soát tại Cục Thuế Bình Dương (giai đoạn 2011-2013). Chương 4: Khảo sát sự tuân thủ thuế TNDN tại Cục Thuế tỉnh Bình Dương.
Chương 5: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao sự tuân thủ thuế TNDN. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƯƠNG 2 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ SỰ TUÂN THỦ THUẾ TNDN VÀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT THUẾ 2.1 Lý luận cơ bản về tuân thủ thuế TNDN 2.1 Khái niệm Thuế thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của doanh nghiệp sau khi đã trừ chi phí để tạo ra thu nhập trong mỗi kỳ tính thuế. Thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong một kỳ tính thuế và được xác định trên cơ sở thu nhập chịu thuế, nên chỉ khi các doanh nghiệp, các nhà đầu tư kinh doanh có lợi nhuận mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Vì vậy, loại thuế này phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả kinh doanh cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp trong nhiều ngành nghề khác nhau của cả nước.
Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế cao sẽ phải nộp thuế nhiều, ngược lại những doanh nghiệp có thu nhập thấp sẽ nộp thuế thấp, thậm chí được giảm thuế, miễn thuế trong các trường hợp khó khăn theo quy định. Do đây là loại thuế trực thu có tính chất phức tạp nên song hành với việc tuân thủ thuế của doanh nghiệp cần phải có hệ thống kiểm soát của cơ quan thuế. Từ khái niệm trên, có thể thấy rằng thuế TNDN phụ thuộc vào cấu thành cơ bản của nó là doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế và thuế suất áp dụng.
Do tính chất phức tạp của Luật thuế TNDN đòi hỏi NNT phải hiểu rõ luật thuế TNDN để thực hiện sự tuân thủ một cách tốt nhất, đồng thời việc kiểm soát sự tuân thủ thuế TNDN từ phía CQT hết sức cần thiết nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Vai trò của thuế TNDN - Thuế TNDN là nguồn thu quan trọng của NSNN và là công cụ để Nhà nước huy động một bộ phận thu nhập của nền sản xuất xã hội về NSNN. Nền kinh tế thị trường nước ta ngày càng phát triển và ổn định, các chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ngày càng mang lại nhiều lợi nhuận thì khả năng huy động nguồn tài chính cho NSNN thông qua thuế TNDN ngày càng dồi dào và chiếm tỷ trọng tương đối lớn qua các năm (số liệu Bình Dương).1: Số thu thuế TNDN qua cac năm 2011-2013 ĐVT: triệu đồng Tỷ trọng thuế Số thu thuế Năm TNDN/Tổng các TNDN nguồn thu thuế 2011 4.065 34,4% Nguồn: Báo cáo công tác thuế năm 2011-2013 của Cục Thuế Bình Dương - Thuế TNDN là công cụ quan trọng để góp phần khuyến khích thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo định hướng của Nhà nước. Các chính sách khuyến khích, ưu đãi thuế vì các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội hoặc tham gia giải quyết các vấn đề xã hội thường được lồng ghép, thiết kế trong quy định pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp như hệ thống thuế suất và hệ thống ưu đãi miễn, giảm thuế khác nhau qua các thời kỳ.
Đặc biệt, các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để thu hút đầu tư vào các vùng khó khăn, khuyến khích phát triển các lĩnh vực theo định hướng, cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài thường được thể hiện trong chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp của nhiều nước. - Trong những năm gần đây thuế TNDN được sử dụng như công cụ hỗ trợ chính sách kinh tế đối ngoại của Nhà nước thông qua hiệp định tránh đánh thuế hai LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 lần giúp các nhà đầu tư an tâm sản xuất đạt lợi nhuận cao, tạo ra sự công bằng, tránh thất thoát thuế, thuế không chồng thuế, phù hợp với thông lệ quốc tế. Do vậy, khi thực hiện các chính sách thuế đúng đắn, quản lý thu thuế theo đúng hoạch định sẽ thúc đẩy những vai trò trên phát huy tác dụng một cách rõ ràng.2 Tuân thủ và không tuân thủ thuế TNDN 2.1 Khái niệm Tuân thủ thuế Tuân thủ thuế theo cách hiểu đơn giản nhất là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế được quy định trong luật theo những mức độ khác nhau [5]. Trước hết tác giả phân tích hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo luật có nghĩa là NNT phải thực hiện các nghĩa vụ của mình theo đúng luật phù hợp với tình hình thực tế phát sinh hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị, thứ hai là mức độ chấp hành cao hay thấp, chấp hành 100% hay chấp hành một phần do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (09/2004) định nghĩa cụ thể hơn: “Tuân thủ thuế là phạm vi mà đối tượng nộp thuế phải hoàn thành các nghĩa vụ thuế của mình”. Theo đây NNT phải tuân thủ các nghĩa vụ thuế cơ bản: (1) nộp tờ khai thuế đúng hạn, (2) kê khai (báo cáo) chính xác trên tờ khai những thông tin cần thiết để xác định số tiền thuế, (3) nộp nghĩa vụ thuế kịp thời. Các nghĩa vụ này thường được coi là tuân thủ về nộp tờ khai, tuân thủ về báo cáo (kê khai), và tuân thủ về thu nộp [16]. Sự tuân thủ thuế của DN là hành vi chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng mục đích của luật một cách đầy đủ, tự nguyện và đúng thời gian [11].
Tính đầy đủ tự nguyện và đúng thời gian có nghĩa là không cần có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay tác động bởi các lợi ích kinh tế khác DN vẫn tự nguyện thực hiện các nghĩa vụ thuế của mình một cách đầy đủ và đúng thời gian. Tuy nhiên, thực tế hầu hết các DN bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự kiểm soát của các cơ quan thuế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Tất cả các phân tích trên cho thấy có thể khái niệm về tuân thủ thuế như sau: Tuân thủ thuế là sự chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng luật quản lý thuế ở các mức độ cao thấp khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thực tế của DN và quá trình kiểm soát của cơ quan thuế. Như vậy tuân thủ thuế TNDN là sự chấp hành nghĩa vụ thuế theo đúng luật quản lý thuế và luật thuế TNDN của các đối tượng nộp thuế TNDN.
Mức độ chấp hành khác nhau tùy thuộc vào điều kiện thực tế của DN và quá trình kiểm soát của cơ quan thuế. Cụ thể tuân thủ các quy định như đăng ký, kê khai, báo cáo, nộp thuế TNDN chính xác, đúng thời hạn, đầy đủ nội dung, đúng biểu mẫu, trung thực phù hợp với tình hình sản xuất kinh doanh. Bất kỳ sự vi phạm nào ở một trong các khâu trên đều là không tuân thủ. Không tuân thủ thuế Ủy ban các vấn đề về thuế, OECD (2004) viết: “ Nghĩa vụ cụ thể của người nộp thuế có thể khác nhau về trách nhiệm thuế và giữa các cơ quan thuế khác nhau, nhưng có bốn loại nghĩa vụ mà NNT chắc chắn phải thực hiện dù ở bất kỳ nước nào là: đăng ký thuế, nộp tờ khai và nộp các thông tin cần thiết liên quan đến thuế đúng thời hạn, báo cáo các thông tin đầy đủ và chính xác (kết hợp với việc lưu giữ sổ sách), nộp nghĩa vụ thuế đúng hạn”.
Nếu NNT không thực hiện bất kỳ một trong bốn nghĩa vụ trên đây thì có thể coi là không tuân thủ. Tuy nhiên, mức độ không tuân thủ là khác nhau rõ ràng [16]. Nguyên nhân của sự không tuân thủ thuế thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau như: NNT không hiểu biết về luật thuế (đặc biệt là luật thuế TNDN), không thực hiện hệ thống kế toán tại đơn vị, do đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của từng đối tượng khác nhau, do chính sách thuế phức tạp, từ đó ảnh hưởng đến tuân thủ thuế.2 Phân loại Tuân thủ thuế Dựa vào mức độ tuân thủ thuế có thể chia thành hai loại tuân thủ tự nguyện và tuân thủ có kiểm soát. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 Tuân thủ tự nguyện: Theo James, S.; Alley, C, (1999) viết: “Có câu hỏi đặt ra là sự tuân thủ có được là do hành vi tự nguyện hay bắt buộc? Nếu người nộp thuế tuân thủ vì sự đe dọa hoặc do các biện pháp hành chính, hoặc do cả hai, thì điều này không được cho là hoàn toàn tuân thủ ngay cả khi khoản thu từ thuế đạt đến 100% so mức phải nộp theo luật định.
Vì vậy quan điểm cho rằng cơ quan quản lý thuế thành công khi gia tăng được sự tuân thủ tự nguyện của người nộp thuế mà không cần dùng đến các hình thức kiểm tra, thẩm tra, nhắc nhở hoặc lo sợ bị áp dụng các biện pháp hành chính” [5]. Tuy nhiên, sự tuân thủ tự nguyện này có thể có sai sót do không hiểu rõ quy định của chính sách. Tuân thủ có kiểm soát: Quan điểm truyền thống của quản lý thuế chủ yếu dựa trên giả thiết rằng hầu hết DN về bản chất là không tự nguyện tuân thủ và chỉ chấp hành nghĩa vụ khi có sự cưỡng chế của các cơ quan thuế hay khi bị tác động bởi lợi ích kinh tế. Nếu có sự ràng buộc, nhắc nhỡ hay có chế độ kiểm soát thì NNT mới chấp hành.
Tuy nhiên, mức độ chấp hành là khác nhau. Dựa vào phạm vi nghĩa vụ tuân thủ có thể chia thành các khâu: Đăng ký thuế. Kê khai thuế. Không tuân thủ thuế.
Khi phân tích hành vi không tuân thủ thuế cần phải xem xét hai hành vi sau: Không tuân thủ do thiếu hiểu biết (hành vi không tuân thủ không dự tính): Nhiều người nộp thuế sẵn lòng hợp tác toàn diện nhưng lại không thực hiện được vì họ không biết cách hoàn thành các tờ khai thuế chính xác hoặc không hiểu hết phạm vi nghĩa vụ thuế của họ hoặc họ hiểu sai luật [5]. Không tuân thủ do cố ý (hành vi tuân thủ thuế dự tính) bao gồm tránh thuế và trốn thuế bằng việc tạo ra các giao dịch giả tạo để trốn thuế, tìm mọi kẽ hở hợp pháp để giảm thuế, dùng những thủ đoạn và chống chế ở mọi lúc để trì hoãn và để giảm số tiền thuế phải nộp [5].