Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về thuế Thu nhập cá nhân 1. Khái quát về thuế Thu nhập cá nhân 1. Một số khái niệm Thuế TNCN Theo tài liệu “ Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các học thuyết cổ điển và hiện đại ” của TS.
Tác giả cho rằng: Vấn đề bản chất của thuế vẫn còn là vấn đề nhiều tranh luận; theo quan điểm cổ điển về thuế, các học giả cổ điển cho rằng bản chất của thuế được thể hiện rõ nhất ở bốn đặc trưng cơ bản : thuế là khoản trích nộp bằng tiền của tổ chức, cá nhân cho Nhà nước, thuế là khoản đóng góp bắt buộc dựa trên quyền lực nhà nước; thuế là khoản không có hoàn trả; thuế là khoản thu không có đối khoản trực tiếp. Các đặc điểm này vẫn tiếp tục được thừa nhận trong xã hội ngày nay. Quan điểm cổ điển về thuế đã tuyệt đối hóa vai trò và quyền lực Nhà nước trong việc xác lập và hành thu thuế, nhấn mạnh tính cưỡng chế và bắt buộc, tính không hoàn trả của thuế coi nhẹ vai trò và địa vị kinh tế, thành phần xã hội của người nộp thuế trong quan hệ nộp thuế Nhà nước. Trước khi nghiên cứu về thuế TNCN cần nghiên cứu về thu nhập và thu nhập cá nhân.
Các nhà nghiên cứu đưa ra một số khái niệm và thu nhập và thu nhập cá nhân như sau: Trước hết theo lý thuyết về sự bổ sung tài sản, tăng thêm tiềm lực kinh tế mà không quan tâm đến tính thường xuyên của thu nhập với đại diện G.schant, thu nhập được hiểu là một khả năng kinh tế sẽ được bổ sung cho một người nào đó trong một khoảng thời gian nhất định, thí dụ như trong một năm, không kể khoản này có lặp lại hay không, được cấu thành như thế nào và anh ta có thể được tùy ý sử dụng. Như vậy theo thuyết này, thu nhập sẽ là mọi khoản thu nhập riêng từ các nguồn đã khấu trừ các chi phí để tạo ra thu nhập. Theo khái niệm về thu nhập của nhà kinh tế học người Mỹ, paul.Samuelson: “Thu nhập là tổng số tiền kiếm được hoặc thu góp được trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một năm”. Thuật ngữ “ tiền” ở đây được hiểu là những khoản thu dưới dạng tiền tệ hay hiện vật được tính thành tiền, nó bao gồm cả phần sản xuất để tiêu dùng, nhận được từ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 các hoạt động hay từ quyền sở hữu về tài sản, tiêu dùng các tài khoản không phải thanh toán.
Thu nhập được chia thành thu nhập cá nhân và thu nhập của công ty( thu nhập doanh nghiệp). Thu nhập cá nhân là bộ phận rất quan trọng của tổng sản phẩm quốc dân của một quốc gia, bởi vì đại bộ phận thu nhập quốc dân, sau quá trình phân phối và phân phối lại sẽ được phân chia cho các thành viên trong xã hội dưới hình thức bằng tiền, bằng hiện vật hoặc các phúc lợi xã hội. Trên cơ sở khái niệm về thu nhập và thu nhập cá nhân để đưa ra khái niệm thuế thu nhập cá nhân : Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh của Nhà nươc. Thuế TNCN là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập của từng cá nhân có thu nhập cao, bao gồm: tiền lương, tiền công và các khoản thu nhập khác.
Mục tiêu của loại thuế này là điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập. Để thực hiện điều này, rất nhiều nước đã áp dụng thuế suất tương đối luỹ tiến vì áp dụng thuế suất tương đối cố định như những loại thuế khác. Ở nước ta thuế thu nhập cá nhân được ban hành vào ngày 27.1990 bằng Pháp lệnh “thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao” do chủ tịch nước ký lệnh công bố. Từ đó đến nay, thuế thu nhập cá nhân đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung.
Thuế thu nhập cá nhân là một bộ phận trong hệ thống thuế, thuế vừa mang vai trò chủ yếu của thuế nói chung, vừa có các vai trò riêng mà các loại thuế khác không có được. Theo Giáo trình Thuế (NXB Tài chính 2009) – Nguyễn Thị Liên của Học viện Tài chính thì “Thuế thu nhập cá nhân là thuế đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế ” Thuế TNCN là một loại thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào thu nhập của cá nhân, cá nhân khó có thể chuyển gánh nặng thuế được sang cho chủ thể khác. Thu nhập chịu thuế của các nhân phát sinh trong kỳ tính thuế là thu nhập mà cá nhân nhận được sau khi đã giảm trừ các khoản chi phí liên quan để tạo ra thu nhập, các khoản giảm trừ mang tính chất xã hội và các khoản giảm trừ khác. Thuế TNCN là loại thuế trực thu, đánh vào phần thu nhập nhận được của cá nhân trong một kỳ tính thuế nhất định không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thuế TNCN thường được tính theo biểu luỹ tiến từng phần do xuất phát từ vai trò của thuế TNCN là điều tiết thu nhập của người có thu nhập cao, động viên sự đóng góp của những người có thu nhập thấp, thu nhập trung bình trong xã hội thuế TNCN được đánh giá trên nguyên tắc lợi ích công bằng và khả năng nộp thuế Thuế TNCN không bóp mép giá cả hàng hoá, dịch vụ, thuế TNCN không cấu thành trong giá bán (giá thanh toán) hàng hoá dịch vụ nên nó không tạo ra sự sai lệch giá cả hàng hoá dịch vụ Ngày 21/11/2007, Quốc hội ban hành Luật Thuế thu nhập cá nhân và chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009, thay thế cho Thuế thu nhập với người có thu nhập cao trước đây. Luật thuế TNCN mới quy định người nộp thuế là cá nhân người Việt Nam, người nước ngoài có thu nhập chịu thuế bao gồm cả cá nhân tự kinh doanh và chủ hộ gia đình hoặc người đại diện hộ gia đình. Việc chuyển cá nhân, hộ kinh doanh hiện đang nộp thuế thu nhập doanh nghiệp và mở rộng thêm các đối tượng có thu nhập từ đầu tư vốn và tài sản vào nộp thuế thu nhập cá nhân sẽ đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của cá nhân và phù hợp với thông lệ quốc tế. Ưu điểm của thuế TNCN là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, còn cho phép xem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của NNT, như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình.
Do đó, thuế TNCN có tác dụng rất lớn trong việc điều hòa thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã bảo đảm được tính công bằng trong xã hội. Nhược điểm của thuế TNCN là dễ gây ra phản ứng từ phía NNT khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế. Hơn nữa, việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp. Số thu động viên vào NSNN thường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém.
Đặc điểm thuế Thu nhập cá nhân Một là: Thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người chịu thuế thu nhập cá nhân không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế khoá sang LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 cho các đối tượng khác tại thời điểm đánh thuế. Sắc thuế này luôn tạo cảm giác nặng nề, rất nhạy cảm và dễ bị phản ứng tiêu cực từ phía người chịu thuế.
Hai là: Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, Đối tượng chịu thuế của thuế TNCN là gần như toàn bộ các khoản thu trong tổng thể thu nhập của cá nhân thu nhập khác thể hiện trên hai khía cạnh: một là đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc diện đánh thuế không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở nước ngoài; mà không phân biệt nguồn gốc phát sinh thu nhập đó, bao gồm : Thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ trúng thưởng, từ tiền bản quyền, thu nhập từ quà biếu, quà tặng, thừa kế, hai là đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày. Chính vì vậy, khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách của thuế thu nhập cá nhân rất cao có mặt, làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN. Ba là, Thuế TNCN là một loại thuế thu nhập nhưng khác với thuế Thu nhập doanh nghiệp ở chỗ nó có tính tất yếu gắn với chính sách xã hội của mỗi quốc gia cho dù quốc gia đó có mục tiêu hoàn thiện chính sách thuế, xây dựng một chính sách thuế có tính trung lập không nhằm nhiều mục tiêu khác nhau. Thể hiện, nó luôn quy định loại trừ một số khoản thu nhập trước khi tính thuế TNCN như thu nhập mang tính trợ cấp xã hội, khoản chi cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình người nộp thuế, khoản chi mang tính nhân đạo xã hội… Bốn là, Thuế TNCN có góc độ kỹ thuật tính thuế khá phức tạp bởi diện đánh thuế rộng, liên quan chặt chẽ với hoành cảnh cá nhân, chính sách xã hội cụ thể, có áp dụng phương pháp luỹ tiến.
Có như vậy mới đảm bảo công bằng xã hội, người có thu nhập cao hơn thì trước và sau khi nộp thuế họ vẫn còn một khoản thu nhập cao hơn so với người có thu nhập thấp khi chưa nộp thuế. Năm là, Thời gian tính thuế TNCN thường là một năm dương lịch đối với thu nhập thường xuyên hoặc từng lần phát sinh đối với thu nhập không thường xuyên. Để có số thu vào NSNN kịp thời, tùy từng nước quy định chế độ tạm thu hàng tháng, quý, hoặc 6 tháng một lần đối với thu nhập thường xuyên.