CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 1. Cơ sở lý luận về quản lý thuế thu nhập cá nhân 1. Những vấn đề cơ bản về thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm thuế thu nhập cá nhân Đã có nhiều nghiên cứu về TTNCN, trước hết cần xem xét khái niệm về TTNCN.
Sau đây là một số khái niệm: Theo Nguyễn Thị Liên (2009) đưa ra khái niệm như sau: “TTNCN là sắc thuế trực thu đánh vào thu nhập chịu thuế của cá nhân phát sinh trong kỳ tính thuế.” Huỳnh Văn Diện (2016) “TTNCN là loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân do Nhà nước ban hành thành luật và đảm bảo thực thi bằng sức mạnh của Nhà nước”. Phạm Thị Giang Thu (2008) đưa ra khái niệm như sau “TTNCN là loại thuế trực thu đánh vào những người có thu nhập cao, bao gồm công dân Việt Nam ở trong nước hoặc đi công tác, lao động ở nước ngoài có thu nhập, cá nhân là người không mang quốc tịch Việt Nam nhưng định cư không thời hạn ở Việt Nam có thu nhập và người ngoài có thu nhập tại Việt Nam.” Đây là một sắc thuế trực thu vì nó đánh trực tiếp vào TNCN. Vì vậy gánh nặng thuế khó có thể được chuyển sang cho các đối tượng khác. Với việc nộp TTNCN này sẽ giúp cho việc điều tiết về thu nhập giữa người nghèo và người giàu, sự phân phối thu nhập này thông qua nhà nước.
Số lượng thuế thu nhập cũng đảm bảo sự công bằng, số lượng thuế phụ thuộc vào khả năng của các đối tượng nộp thuế. Vai trò của thuế thu nhập cá nhân * Đối với nền kinh tế - xã hội - Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách Nhà nước. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Thuế là một trong những nguồn thu quan trọng của NSNN mà trong đó TTNCN ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nguồn hình thành NSNN. Khi nền kinh tế phát triển, đối tượng nộp TTNCN cũng có xu hướng mở rộng, nâng cao khả năng tạo nguồn NSNN.
Bên cạnh đó, TTNCN được tính vào những cá nhân có thu nhập cao của bất kỳ quốc gia nào mà trong khi đó các cá nhân đều mong muốn nâng cao thu nhập nhằm phục vụ tốt hơn đời sống vật chất và tinh thần. - Góp phần thực hiện công bằng xã hội. TTNCN là loại thuế đánh vào những người có thu nhập cao. Trong khi đó, NSNN được sử dụng vào mục đích công ích: chăm lo đời sống tinh thần, vật chất của toàn dân.
Do vậy, thông qua việc đóng thuế sẽ giúp phân phối lại nguồn thu nhập, đảm bảo công bằng trong xã hội, người thu nhập thấp được tiếp cận với dịch vụ phát triển. - Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm Đứng trên góc độ vĩ mô của nền kinh tế, TTNCN tức là người có thu nhập cao sẽ san sẻ một phần thu nhập của mình cho những người có thu nhập thấp, nhưng điều này cũng có nghĩa khả năng thanh toán của người thu nhập cao cũng bị giảm đi và điều này sẽ tác động đến sản xuất nhất là các mặt hàng xa xỉ. - Góp phần phát hiện thu nhập bất hợp pháp Trong quá trình quản lý, những đối tượng có thu nhập cao phải kê khai với CQT về các khoản thu nhập của mình. Thông qua việc khai báo này, các cơ quan chức năng có thể đánh giá, xem xét và phát hiện những khoản thu nhập bất thường, những khoản thu nhập bất hợp pháp như: lừa đảo, buôn bán các vật cấm… Những hành vi này gây thất thoát nguồn ngân sách nhà nước, cần phải được xử lý kịp thời.
Do vậy, các cơ quan chức năng cần ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm trên mà thông qua thu thuế TNCN có thể phát hiện các trường hợp trên. * Đối với hệ thống thuế LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 - Góp phần khắc phục nhược điếm của một số loại thuế khác Đối với những loại thuế gián thu, những loại thuế này sẽ thu thông qua giá của sản phẩm và điều này ảnh hưởng nhiều đến những người có thu nhập thấp vì khi tiêu thu hàng hóa không phân biệt thu nhập của người tiêu dùng. Điều này chưa tạo sự công bằng đối với những người thu nhập khác nhau, đối với TTNCN thì sẽ khắc phục được điều này. - Góp phẩn hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp Đa phần những người phải nộp TTNCN đều ủy quyền cho doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cho ngân sách nhà nước.
TTNCN phản ánh một phần nào đó thu nhập của người lao động đang làm việc tại cơ quan doanh nghiệp đó. Vì vậy, hai loại thuế này thường có xu hướng cùng chiều với nhau. Trong quá trình quản lý thuế của các doanh nghiệp, việc biết được số lượng TTNCN có thể phản ánh một phần nào đó thu nhập của doanh nghiệp từ đó CQT xác định được các khoản doanh thu của doanh nghiệp để có thể tính toán một cách chính xác lượng thuế thu nhập doanh nghiệp cần phải nộp. Tóm lại, thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những nguồn đóng góp quan trọng vào NSNN.
Tuy nhiên, trong quá trình quản lý TTNCN vẫn tồn tại một số hạn chế nhất định nên việc đóng góp vào NSNN của TTNCN chưa thực sự xứng đáng với vai trò của nó. Nội dung cơ bản của thuế thu nhập cá nhân * Đối tượng nộp thuế Theo Điều 2 Luật TTNCN năm 2007 quy định về đối tượng nộp thuế như sau: “- Đối tượng nộp TTNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật TTNCN phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế quy định tại Điều 3 của Luật TTNCN phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam. - Cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 + Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc tính theo 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam; + Có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi ở đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn.” (Quốc hội, Luật thuế thu nhập cá nhân, 2007) - Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng điều kiện cá nhân cư trú * Thu nhập chịu thuế đó là: thu nhập chụi thuế là các khoản thu bao gồm: các khoản thu từ đầu tư, các khoản thu từ chuyển nhượng vốn, thu từ cá cược, thu từ bán bản quyền, thu từ nhận quà tặng từ các tổ chức cá nhân… * Thuế suất hay định suất: tùy từng đối tượng khác nhau áp dụng các cách thức khác nhau để xác định thuế suất, các loại thuế suất đó là: thuế suất thống nhất, thuế suất phân biệt, thuế suất đơn vị, thuế suất theo giá trí, thuế suất lũy tiến từng phần, thuế suất lũy tiến toàn phần. * Các trường hợp được giảm trừ thuế: Các trường hợp giảm trừ được quy định tại điều 19 luật TTNCN năm 2007 và được được bổ sung tại luật số 26/2012/QH13 như sau: “Giảm trừ gia cảnh là số tiền được trừ vào thu nhập chịu thuế trước khi tính thuế đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công của đối tượng nộp thuế là cá nhân cư trú.
Giảm trừ gia cảnh gồm hai phần sau đây: a) Mức giảm trừ đối với đối tượng nộp thuế là 9 triệu đồng/tháng (108 triệu đồng/năm); b) Mức giảm trừ đối với mỗi người phụ thuộc là 3,6 triệu đồng/tháng. Trường hợp chỉ số giá tiêu dùng (CPI) biến động trên 20% so với thời điểm Luật có hiệu lực thi hành hoặc thời điểm điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh gần nhất thì Chính phủ trình Ủy ban thường vụ Quốc hội điều chỉnh mức giảm trừ gia cảnh quy định tại khoản này phù hợp với biến động của giá cả để áp dụng cho kỳ tính thuế tiếp theo.” (Quốc hội, Luật thuế thu nhập cá nhân, 2007) * Chế độ kê khai, thu thuế, nộp thuế “Kê khai thuế được thực hiện các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 quyền và nghĩa vụ của các đối tượng nộp thuế dựa trên sổ sách kế toán, các chứng từ hóa đơn… Chế độ nộp thuế của các đối tượng nộp thuế được thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền. Việc nộp thuế được coi là chính xác khi: số thuế nộp đủ và đúng thời gian theo quy định pháp luật. đối với thu thuế được quy định bởi các cơ quan thực hiện nhiệm vụ thu thuế đó là CQT, hải quan, kho bạc.
Ngoài ra việc thu thuế còn được thực hiện bởi các tổ chức được ủy nhiệm việc thu thuế. Quản lý thuế thu nhập cá nhân 1. Khái niệm quản lý thuế và mục tiêu quản lý thuế thu nhập cá nhân * Khái niệm quản lý thuế Để nghiên cứu về quản lý TTNCN, trước hết đó là xác định khái niệm về quản lý thuế. Một số khái niệm về quản lý thuế như sau: Theo Lê Xuân Trường (2010) “Quản lý thuế là quản lý hành chính nhà nước về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp thuế, hay nói cách khác đó là hoạt động chấp hành của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà cụ thể là hệ thống cơ quan quản lý thuế từ trung ương đến địa phương trong quản lý thu, nộp thuế cho nhà nước từ các tổ chức, cá nhân là đối tượng nộp thuế đã được xác định trong các Luật thuế.” * Khái niệm quản lý thu TTNCN: Theo Lê Xuân Trường (2010) đưa ra khái niệm như sau “ Quản lý thu TTNCN là sự tác động có chủ đích của các cơ quan chức năng trong bộ máy nhà nước với quá trình tính và thu TTNCN để thay đổi quá trình này nhằm tạo nguồn thu cho Ngân sách và đạt được các mục tiêu nhà nước đặt ra.” Theo Vũ Văn Cương (2012) “Quản lý TTNCN được coi là quá trình tác động của nhà nước trong việc quản lý các nguồn thu thuế cho ngân sách nhà nước thông qua các văn bản pháp lý, các quy định được thực hiện bởi các cơ quan , tổ chức được nhà nước quy định.” Như vậy đối với mỗi đối tượng liên quan đến quản lý thuế có những chức LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 năng và nhiệm vụ khác nhau: Đối với CBT thuế, việc quản lý thuế gồm những nội dung đó là: xác định đúng các đối tượng phải nộp TTNCN, xác định chính xác số thuế cần phải thu của mỗi cá nhân.